2009/11/23

Vụ án RBA có "tiến triển", các quan chức CSVN bắt đầu ... run?



Theo tờ The Age hôm nay 21/11 cho biết cảnh sát liên bang Úc đã tiến hành lục soát tư gia các thành viên ban giám đốc và tổng hành dinh tại Melbourne của công ty Securency, một công ty con của RBA (Ngân Hàng Dự trữ Trung Ương Úc), là công ty can dự vào vụ hối lộ lớn nhất nước Úc, có liên quan đến vụ làm ăn in tiền nhựa Polymer cho Việt Nam và một số nước khác.

Ngay sau khi có được trát tòa, hôm thứ Năm 19/11 cảnh sát liên bang Úc đã ập vào tư gia của Myles Curtis và John Ellery, là Tổng Giám đốc và Thư Ký của Securency, để lục soát, tìm kiếm bằng chứng liên quan đến vụ án RBA. Tuy nhiên, cảnh sát chưa tiến hành thẩm vấn cũng như không bắt giữ ai trong số này.

Không chỉ có Cảnh sát Liên bang Úc, mà Văn Phòng Điều tra Gian lận Anh Quốc cũng vào cuộc vụ án này, bởi vì có 2 quan chức cao cấp bên ngành tiếp thị của Securency đóng đô và làm việc toàn thời tại Anh Quốc.

Việc điều tra của cảnh sát Úc chỉ thực sự bắt đầu vào tháng 5 năm nay sau khi báo The Age có loạt bài phóng sự điều tra chuyện bê bối của Securency qua việc hối lộ các quan chức nhà nước Việt Nam, Nigeria và Mã Lai để có được hợp đồng làm ăn béo bở trong việc cung cấp nguyên vật liệu và in tiền Polymer cho các nước này. Hầu hết các hợp đồng làm ăn có được đều nhờ mối lái thông qua các tay trung gian người bản xứ, và Securency đã phải trả một số tiền "huê hồng" rất lớn cho các cá nhân/công ty trung gian này. Trong số này, vụ làm ăn với Việt Nam được xem là nghiêm trọng nhất bởi vì khoản tiền "huê hồng" mà Securency trả cho phía môi giới Việt Nam là công ty CFTD, lên đến 12 triệu đô la Úc và cũng là khoản tiền lớn nhất. Để hợp thức hóa việc chi thu số tiền này, phía Securency đã quyết toán là khoản tiên chi cho việc thuê công ty CFTD của ông Tổng Mafia Lương Ngọc Anh thực hiện công việc “dịch thuật, sắp xếp chỗ ở khách sạn, họp hành, đưa đón,...”. Có lẽ do người Úc "khó tánh" hơn người Việt Nam, không dễ dàng tin vào câu chuyện này cho nên vụ việc đã bị moi ra, đổ bể và được đưa ra ánh sáng công lý.

Trong bản thông cáo báo chí tối hôm qua, hội đồng quản trị của Securency thừa nhận là các vu hối lộ kiểu này đã từng bị một nhân viên của công ty tố cáo vào năm 2007. Khi đó công ty Kiểm toán KPMG cũng phát hiện và có báo cáo lại nhưng ban quản trị Securency chỉ cho điều tra qua loa tố cáo này mà không làm tới nơi tới chốn. Ngoài ra, ban Giám đốc cũng không báo cáo vụ việc lên hội đồng quản trị của Securency và RBA. Bản thông cáo báo chí còn xác nhận quan điểm của hội đồng quản trị của Securency là "không chấp nhận cách làm việc như vậy của ban giám đốc công ty".

Ngoài nước Úc ra thì hiện nay Việt Nam là nước có số lượng tiền Polymer lưu hành nhiều nhất trong số 28 quốc gia có lưu hành tiền Polymer, hơn cả Nigeria. Trong khi các nước còn lại như Mã Lai, Ba Tây,... cũng chỉ in và lưu hành tiền Polymer có giới hạn, chưa đại trà lắm hoặc là chỉ là lưu hành loại tiền Polymer lưu niệm mà thôi.

Một khi Cảnh sát liên bang Úc đã vào cuộc thì chắc chắn vụ RBA được điều tra ổn thỏa và các thành viên ban điều hành công ty Securency sẽ bị cáo buộc tội hối lộ nghiêm trọng, và như vậy vụ này sẽ là vụ án hối lộ ở hải ngoại lớn nhất của Úc từ trước tới nay, đang được công luận Úc lưu tâm đến. Theo luật pháp Úc thì việc đưa hối lộ các quan chức nước sở tại để kiếm lời hoặc được "tạo điều kiện thuận lợi" trong công việc làm ăn là một trọng tội, và bản án dành cho tội danh này có thể lên đến 10 năm tù cộng thêm phạt tiền nặng.

Ban điều hành Securency đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc hành xử của công ty vì đã chuyển hàng triệu đô la vào tài khoản ở Thụy Sĩ của các tay môi giới đứng trung gian trong các hợp đồng làm ăn này. Rất nhiều trong số những tên trung gian này đã từng dính líu vào các vụ xì-căng-đan tham nhũng hối lộ trước đây. Đến tháng 5 vừa rồi thì hội đồng quản trị RBA đã chuyển vụ việc qua Cảnh sát liên bang Úc để nhờ điều tra.

Trước đó vào năm 2007, sau khi công ty kiểm toán đánh động một vụ việc tương tự thì RBA đã ra lệnh công ty con của mình là công ty in tiền Polymer "Note Printing Australia" phải ngay lập tức tống cổ toàn bộ các tay môi giới. Tuy nhiên, RBA lại để Securency tiếp tục chi trả hàng triệu đô la tiền huê hồng cho những tay trung gian để có được các hợp đồng làm ăn.

JPEG - 9.2 kbLương Ngọc Anh, TGĐ Cty CFTD và cựu Thống đốc Ngân hàng Lê Đức Thúy

Nổi bật hơn hết trong các tay trung gian này là công ty CFTD của ông Tổng Mafia Lương Ngọc Anh. Giới ngoại giao Úc cho rằng Lương Ngọc Anh là người của Bộ Công An CSVN, có mối quan hệ làm ăn khắng khít với các quan chức trong bộ này, bên Bộ Ngoại Giao cũng như các quan chức ngoại giao tại Tòa đại sứ VC tại Úc, nơi ông ta từng theo học trước đây. Các mối quan hệ làm ăn trực tiếp trong vụ này của Lương Ngọc Anh phải kể đến mối quan hệ với Ngân Hàng Nhà Nước VN thông qua Lê Đức Minh, giám đốc công ty BankTech, một công ty con của Công ty Phát Triển Công Nghệ (CFTD), cũng là con trai của Lê Đức Thúy là Thống đốc Ngân hàng khi đó. Ngoài ra Lương Ngọc Anh còn có mối quan hệ với các quan chức thuộc văn phòng chính phủ dưới triều đại của hai Thủ tướng Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng.

Nay vụ RBA đã được công luận Úc chiếu cố, cảnh sát liên bang Úc bắt đầu "sờ gáy" các quan chức điều hành công ty Securency, có lẽ các quan chức CSVN có liên can trong vụ này cũng bắt đầu lo lắng chăng? Có lẽ là không, bởi vì nếu diễn giải theo cách trả lời của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại quốc hội hôm 19/11 là "không cho phép lấy chứng cứ do nước ngoài cung cấp để bụôc tội công dân Việt Nam" thì có lẽ còn lâu lắm các quan chức CSVN mới bị buộc tội.

Thế thì phải nói rằng, "Thưa các đồng chí chi bộ, thưa các đồng chí chưa bị xộ (khám), xin các đồng chí yên tâm tiếp tục công tác cho đến khi ... hạ cánh an toàn".

Úc Châu ngày 21/11/2009
Lê Minh

Tin thêm:
Mấy hôm nay hai chữ Việt Nam (Có lẽ phải nói chính xác hơn là CSVN) "được mùa" trên báo chí Úc, bởi vì:
1/. Hôm thứ Năm 19/11/2009, trong lúc đi tuần tra dọc con đường Hughes, gần khu thị tứ Cabramatta của người Việt tại Sydney thì cảnh sát để ý thấy một người đàn ông Việt Nam trông khả nghi, bèn dừng lại kiểm tra thì phát hiện $1.5 triệu đô tiền mặt trong cốp xe chiếc Mercedes 2 cửa bóng loáng của ông ta. Tiếp tục lục soát căn nhà của y ở gần đó, trên cùng con đường này thì lại phát hiện thêm $250,000 đô la tiền mặt.
2/. Hôm qua thứ Sáu 20/11, tại phi trường Sydney cảnh sát Úc đã bắt giữ một người Úc gốc Việt, vừa từ Việt Nam trở lại Úc, vì có đem theo trong đống hành lý một lô hàng là con cờ Đô-Mi-Nô và mạc-chược mà bên trong có chứa một số lượng bạch phiến 5.5kgs có giá trị lên đến $1.25 triệu đô la.

2009/11/22

Chiến Lược Hồn Nhiên


Ban biên tập web VT: Tiết mục "Làng Dân Báo" sẽ giới thiệu thường xuyên đến quý độc giả những bài viết đa dạng từ các cây viết bloggers. Đây là những trăn trở chân thực và "ngoài luồng" của quần chúng Việt Nam.

Xin giới thiệu đến quý độc giả bài viết "Chiến Lược Hồn Nhiên" của blogger Đinh Tấn Lực:

http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/508/508


“Dưới gầm trời này, chẳng có đất nào không là đất của thiên tử” - Ngạn ngữ Trung Hoa.

Mật Lệnh Của Anh Ba

Chuyện kể quanh bàn nhậu: Năm 1977, anh Ba ra lệnh cho BCH TƯĐ: “Phải gấp rút lên phương án sản xuất để đến năm 1980, mỗi nhà đều có một tủ lạnh”. Ngay sau đó, anh Ba lại ra lệnh: “Phải có kế hoạch sản xuất thêm cho mỗi nhà một tivi”. Đầu năm 1979, anh Ba đích thân hối hả đến xí nghiệp Nghĩa Tận, hạ mật lệnh: “Đóng gấp cho nhân dân mỗi người một áo quan! Ưu tiên hàng đầu là bộ phận nhân dân ở Tây Nam và Chính Bắc”.

Ba thập kỷ sau, gần cuối năm 2009, rừng đã kiệt mà áo quan vẫn chưa đóng đủ. Cháu anh Ba bèn tính kế khác: Phát động Dân Quân Tự Vệ Biển.

*

Từ Nước Đôi Tới Tay Đôi

Ngày 24/1/2007, Ban chấp hành Trung ương đảng đã ra Nghị quyết về “Chiến lược biển VN đến năm 2020”. Theo đó, “Đến năm 2020 phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”.

Tháng 4/2007, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ yêu cầu VN đình chỉ việc phân lô, gọi thầu và hợp tác với Tập đoàn Dầu khí BP của Anh trong tiến trình xây dựng đường ống khí đốt ở Trường Sa. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao VN long trọng trả lời: “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Cuối năm 2007, Quốc vụ viện TQ ban hành quyết định thành lập huyện Tam Sa, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình phản đối trước sứ quán và lãnh sự quán TQ tại VN. Lựa chọn ứng xử của đảng và nhà nước ta là huy động công an các thứ ra giải tán/đàn áp/bắt nguội sinh viên/thanh niên/dân oan/bloggers. Tháng 4/2008, nhà nước CHXHCNVN tổ chức trọng thị và an toàn cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh bằng một khung cảnh Sài Gòn rực cờ TQ, bất kể bản đồ TQ trên bích chương Thế vận hội 2008 bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Món quà Thế vận hội nhà nước ta trao tặng Bắc Kinh (để chuộc tội sinh viên biểu tình trước sứ quán TQ mấy tháng trước đó?) là bản án “thiếu thuế” của blogger Điếu Cày.

Tháng 7/2008, TQ xác nhận đã chính thức yêu cầu Cty Exxon Mobil của Mỹ phải ngừng khai thác dầu với Việt Nam ngoài biển Đông, vì lý do TQ coi đó là vi phạm lãnh hải của TQ. Phản ứng câm lặng của VN đã khiến Exxon Mobil quyết định cuốn gói.

Ngày 7/5/2009, TQ trưng bản đồ 9 vạch hình lưỡi bò và tuyên bố trước Liên hợp quốc: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa”. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao của ta vẫn tiếp tục ấp úng/cà lăm trong các buổi họp báo thường kỳ (tại Hà Nội): “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Giữa tháng 5/2009, Trung Quốc ra thông báo từ 12g ngày 16-5-2009 đến 12g ngày 1-8-2009 tất cả các tàu cá VN đều không được vào vùng biển từ 12 độ vĩ Bắc trở lên để đánh bắt cá.

Ngày 4/6/2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với đại sứ TQ Tôn Quốc Tường, “Đề Nghị phía TQ không có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân VN tại ngư trường truyền thống của VN”.

Ngày 11/6/2009, Chủ tịch Hội Nghề Cá VN Nguyễn Việt Thắng đã lên mặt báo để động viên Ngư Dân Hãy Yên Tâm Đánh Bắt, và kiến nghị Chính phủ ta phản đối lệnh cấm của TQ.

Giữa tháng 6/2009, hải quân TQ đã bắt giữ và công khai đòi tiền chuộc (tổng cộng 210 ngàn nhân dân tệ) đối với 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, khi họ đang thực hiện hoạt động đánh bắt bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa của ta, với lý do “xâm phạm lãnh hải Trung Quốc”. Đòi tiền chuộc chính là hành vi/thủ đoạn của khủng bố/hải tặc/giặc cướp. Đảng và nhà nước ta phản ứng ra sao? Ông Nguyên (ở Úc), một độc giả của RFA, nêu thắc mắc: “Trên thế giới này có nhà nước nào nói là độc lập tự chủ, mà lại khuyên ngư dân của mình là khi đi biển thì phải thường nên liên lạc và tự bảo vệ cho nhau, và khi có gì xảy ra thì phải mau mau cứu lấy nhau?…”.

Giữa tháng 7/2009, tái hiện tình hình Tàu “lạ” lại thường xuyên xuất hiện với vận tốc cực nhanh, đâm chìm tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi, khiến nhiều người bị thương. Trước đó, suốt từ tháng 5, tháng 6, là các vụ tàu “lạ” đâm chìm tàu cá của ta. Những thông tin lược kết các bài trên báo về hiện tượng tàu “lạ” có thể chỉ còn lại bản lưu.

Cũng trong tháng 7/2009, TQ phong tỏa ngư trường, ngăn chận ngư dân VN đánh bắt trên vùng biển lưỡi bò. Theo người phát ngôn bộ Ngoại giao TQ Tần Cương: “Việc cấm đánh bắt cá ở khu vực biển Nam Trung Hoa là một biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc”. Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình đã long trọng nhấn mạnh: “Những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào”!

Ngày 28/9/2009, 7 chiếc tàu đánh cá của hơn 200 ngư dân Quảng Ngãi chạy vào trú bão tại đảo Trụ Cẩu, thuộc quần đảo Hoàng Sa, bị hải quân TQ bắn đuổi đi. Hai ngày sau, tan bão, họ lại bị 1 chiến hạm TQ mang ám số 1312 ngăn chận, lục soát, cướp bóc, đánh đập dã man. Phản ứng của chính quyền CHXHCNVN ra sao? Hội Nghề Cá Việt Nam đã ra văn bản kịch liệt phản đối và yêu cầu Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chỉ đạo các lực lượng hải quân TQ chấm dứt ngay và không lặp lại các hành động ngăn cản, cướp phá tài sản, đánh đập ngư dân Việt Nam khi họ vào đảo để tránh, trú bão.

Đầu tháng 10/2009, Đại sứ VN tại Bắc Kinh Nguyễn Văn Thơ đánh giá cao ngày Quốc Khánh TQ trên đài phát thanh quốc tế TQ (China Radio International-CRI): “Đây là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa, cũng là niềm tự hào của các nước châu Á trong đó có Việt Nam…”.

Giữa tháng 10/2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng trả lời phỏng vấn đài CRI: “Quan hệ giữa hai nước chúng ta hiện nay đang ở trong giai đoạn quan hệ tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ chúng ta”.

Cuối tháng 10/2009, trả lời câu hỏi của VietNamNet về việc đẩy mạnh các hoạt động dân sự. tại các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, Phó đô đốc Tư lệnh quân chủng hải quân nhân dân VN Nguyễn Văn Hiến, nói: “Đây là quyết định chính xác, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, bởi chủ quyền đến đâu, chúng ta bảo vệ quân sự đến đó”.

Cụm từ khóa của chủ trương này là: Dùng Hoạt Động Dân Sự Để Bảo Vệ Quân Sự.

Vẫn cuối tháng 10/2009, thông qua kỳ họp QH, đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN ban hành chủ trương “Lập dân quân tự vệ biển để giữ chủ quyền biển đảo”. Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình nhấn mạnh quyết tâm “phát triển tốt hơn lực lượng dân quân, tự vệ biển, làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển”.

Cụm từ khóa của chủ trương này là: Lực Lượng Nòng Cốt Bảo Vệ Người Dân Trên Biển.

*

Chọn Lựa Ứng Xử Bạo Động

Thử bước đầu tìm hiểu động cơ nảy sinh chủ trương ứng xử bạo động nói trên?

Một trong những kết luật rất đáng quan tâm của Hội Thảo về Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 17/3/2009 là: “TQ làm rất tốt công tác nghiên cứu, quảng bá, chuẩn bị dư luận, đây là ‘cuộc chiến không cân sức’ của VN”, cho dù các địa danh Tây Sa và Nam Sa chỉ xuất hiện từ năm 1909 trên các tài liệu của Trung Quốc. Ngược lại, ta từng xác định chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa từ nhiều thế kỷ trước, nhưng cho tới nay vẫn chưa có nổi một chiến lược biển toàn diện và một bộ luật chủ quyền (vì mãi lo làm luật ổn định?).

- Ta không đủ văn bản/dữ kiện nghiên cứu về biển đảo như TQ, cho nên lo ngại kết quả vụ việc tranh chấp có hiệu năng không cao chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

Theo GS Ramses Amer, đại học Stockholm: “Ngay cả khi đã ra tòa án quốc tế và có phán quyết, theo lý thuyết, nếu một bên từ chối thi hành phán quyết của tòa, vấn đề có thể được chuyển lên cho Hội đồng Bảo an LHQ xử lý. Với xung đột biển Đông, vụ việc sẽ đi vào bế tắc bởi TQ với tư cách thành viên thường trực HĐBA sẽ dùng quyền phủ quyết”… Còn AESAN? Hãy nhớ rằng “Quan hệ của họ với Trung Quốc quan trọng hơn với Việt Nam”. Và TQ vẫn cố bẻ đũa từng chiếc, để tạo ảnh hưởng song phương (để có nhiều ưu thế) hơn là đa phương.

- Ta không thấy có nhiều ánh sáng ở cuối đường hầm quốc tế hóa vụ việc như mình mong đợi chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

Theo Wikipedia: “Phương châm 16 chữ vàng là Láng giềng hữu nghị-Hợp tác toàn diện-Ổn định lâu dài-Hướng tới tương lai, do chính lãnh đạo Trung Quốc đưa ra, xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước Việt–Trung trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung-Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới”… “cũng như đẩy nhanh hơn tiến độ triển khai các Thỏa thuận, Hiệp định hợp tác giữa hai nước, và trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm”.

- Lãnh đạo ta bị TQ trói cả tay lẫn chân, bịt cả mắt lẫn miệng, bằng 16 chữ vàng và nhiều ngân phiếu của ngân hàng Thụy Sĩ rồi chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Công an toàn quốc hôm 22/12/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu ngành công an trong năm 2009 phải chủ động “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố”.

- Ta không dư dôi bộ đội và công an để lo mặt biển của Tổ Quốc (trong lúc mặt nạ của lãnh đạo đang trên đà rơi gia tốc) chăng? Rõ là phải tính mánh khác!

Vẫn theo lời Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII, nguyên Trưởng ban Dân Nguyện thuộc Uỷ ban thường vụ QH khóa XI Lê Quang Bình: “Năm 2010 là năm nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước: ĐH Đảng các cấp tiến tới ĐH Đảng toàn quốc, kỷ niệm các ngày lễ lớn. Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng cơ hội này tăng cường chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hóa sự quản lý của nhà nước… Hai là vấn đề biển Đông đang có diễn biến phức tạp. Do đó, cần phải tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở biển Đông, nhất là lợi ích của người dân đang hằng ngày hoạt động đánh bắt cá trên biển”.

- Thế là rõ: Quân đội và công an là lực lượng nòng cốt cần dồn sức tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ đảng và mục tiêu ổn định chính trị trên đất liền. Còn dân quân tự vệ biển là lực lượng nòng cốt bảo vệ người dân và chủ quyền đất nước trên biển.

Đảng ta đã từng chọn chủ nghĩa và lịch sử cho dân tộc. Nay, chỉ chọn thêm giải pháp!

Vẫn ngoài mặt hòa hoãn nước đôi. Còn đằng sau đánh lén tay đôi. “Tiền Lễ Hậu Binh”. Vừa êm với giặc. Vừa mị được dân. Chết dân nhưng còn đảng. Tại sao không?

Cốt Lõi Của Giải Pháp?

Đây là phiên bản tân trang của chiến lược dân công/du kích thời đánh Tây/chống Mỹ. Tên gọi chính thức là “Chiến Tranh Nhân Dân”, với cội nguồn tuyên truyền kích động cơ bản là lòng căm thù của nhân dân đặt trên những bản tin/chuyện kể không có thật. Anh hùng thiếu nhi Lê Văn Tám của ta, không cần vào bộ đội, cũng từng làm đuốc sống đốt rụi kho xăng/đạn Thị Nghè. AK47 của dân quân tự vệ ta đã từng bắn B52 của địch rơi như vãi trấu. Út Tịch nhà ta đã chẳng từng (tay không mang bầu tám tháng vào cướp đồn) đánh tới còn cái lai quần, cũng đánh đó sao?… Chuyện xưa đã thế. Chuyện nay phải hơn thế: Tất cả công an và bộ đội (hải/lục/không quân) của ta đều nhất loạt biến thành anh hùng Núp (bok Núp/all Núp), nhằm bảo vệ tuyệt đối nền an ninh/ổn định chính trị cho cả nước. Còn nhân dân sẽ “tự phát” nhận lãnh sứ mệnh lịch sử là tự bảo vệ lấy sinh mạng, sinh kế, gia đình, đất nước, và cả chủ quyền thiêng liêng của quốc gia.

Nước ta từng được đảng ta mô tả là nổi tiếng về tiền rừng bạc biển. Tiều phu (và lâm tặc) ta không lên rừng đốn cây nhặt củi thì chủ quyền rừng thuộc về ai? Ngư dân ta không ra biển đánh cá và đánh giặc thì chủ quyền biển sẽ thuộc về ai? Nay mai sẽ tới phiên bọn trẻ mục đồng thả diều lại vinh quang nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ chủ quyền không phận nước nhà nữa, không chừng! Ta đã chẳng từng bảo “Dân đi trước – làng nước theo sau” đấy phỏng? Ta đã chẳng từng có Dân Phòng/Dân Vệ là gì? Ta đã chẳng từng reo hò “Vũ khí tối tân không bằng toàn dân ra trận”, hay, “Thóc không thiếu một cân, dân không thiếu một đứa”… đó sao?

- Nhất định thế! Dân không thiếu một đứa! Về cơ bản, thế là xong.

Còn, cụ thể ra, giải pháp này sẽ bao gồm nhiều hạng mục thực hiện: 1- Dựng chòi canh biển cho xã đảo và ngư trường
Mục tiêu rõ ràng: Nhất định phải phát hiện ra từng thằng giặc biển. Phải tự nguyện xây dựng chòi canh biển như ta đã từng di dân khai/phá các vùng kinh tế mới hồi thế kỷ trước. Phải tự nguyện chia ca thức/ngủ để canh gác hòa bình trên biển.

Hậu cần giản dị: Thực phẩm đã sẵn có hải sản các thứ tại chỗ. Báo chí lề phải đừng dại dột/cảm tính/láu cá mà phát động các phong trào mang ánh sáng ra chòi canh biển. Ta cần núp vào bóng tối để phát hiện địch (như MIG của ta núp vào mây để bắn tỉa B52 xưa kia), nên không thể thắp sáng để địch phát hiện (đi không dấu, nấu không khói, nói không ồn).

Tuyên truyền chắc cú: Lịch sử ta đã có những Khúc tráng ca nhà giàn, nay, sẽ tăng cường thêm những Khúc tráng ca về chòi canh biển.

2- Trang bị vũ khí cho ngư dân:

Một khi đã xác quyết “Chúng ta nhất định giành chiến thắng!”, thì nguyên tắc cốt lõi là “Cần nhiều dân không cần nhiều súng”. Mỗi ngư dân một khẩu súng là lý tưởng, nhưng thực tế ra, mỗi thuyền thúng một khẩu súng cũng đã quá thừa để giữ chủ quyền trên biển?

VN ta có tổng cộng 28 tỉnh ven biển gắn với quốc phòng, an ninh biển, đảo. Theo thống kê của Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng, VN ta hiện có gần 9.000 tàu/thuyền đánh cá với hơn 63.000 người hoạt động trên biển (tương đương với 6 sư đoàn bộ binh). Đông nhất là Vũng Tàu với gần 3.000 tàu thuyền (hơn 13.000 người), Quảng Ngãi gần 1.600 tàu thuyền (hơn 12.000 người). Trong số gần một vạn ngư thuyền đó, số tàu có công suất máy nhỏ hơn 90 mã lực chiếm tới 84% tổng số tàu lắp máy trong toàn quốc.

- Chốt lại, tối đa là chỉ cần trang bị sáu vạn súng ống cho ngư dân. So với 1 con SU hay 1 tàu ngầm mà đảng và nhà nước đang đặt hàng, thì ngần đó súng ống chỉ là …số lẻ.

3- Phủ sóng khẩu hiệu cho toàn dân: ”Nhiệt liệt chào mừng Ngư Dân – lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo VN”;
“Tất cả vì chủ quyền thiêng liêng – Tất cả vì biển Đông máu thịt”;
”Ngư dân Việt quyết giữ chủ quyền biển đảo Việt”;
”Nâng pháp lệnh Dân Quân Tự Vệ Biển lên thành luật là một bước tiến tích cực để hoàn tất sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước”;
”Thực hiện tốt Luật Dân Quân Tự Vệ Biển là tích cực góp phần vào việc xây dựng sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước”;
”Tích cực chủ động bảo vệ biển đảo, sẵn sàng phát hiện địch quân kịp thời và có hiệu quả”;
”Vũ khí chỉ là phù du – Tinh thần mới là sức mạnh”;
”Ngư dân quyết tử cho biển đảo quyết sinh”;
“Canh ngày không đủ, tranh thủ gác đêm”;
”Ngư dân VN quyết hoàn thành xuất sắc sứ mạng bảo vệ chủ quyền biển đảo”;
”Dân ở chòi vinh quang như Bác ở hang”;
”Không có gì sướng bằng Tay súng-Tay dầm”;
”Thà mất mạng không để mất lưới”;
”Đi biển hào hùng hơn đi lính”;
”Cá ta đánh bắt – Giặc ta phát hiện”;
”Ngư dân VN kiên quyết phát hiện, ngăn chặn và đẩy lùi bọn giặc cướp chủ quyền biển đảo”;
”Ngư dân phải canh gác chủ quyền biển đảo như gìn giữ con ngươi của chính mình”;
”Công an gắn liền với đường phố – Quân đội gắn liền với doanh trại – Ngư dân gắn liền với chòi canh”;
”Ngư dân yếu thì biển đảo mất – Ngư dân mạnh thì biển đảo còn”;
”Ngư dân quyết tâm thực hiện có hiệu quả Chiến lược Dân Quân Tự Vệ Biển vì sự gìn giữ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam”;
”Còn ngư dân là còn chủ quyền biển đảo”;
”Di dân ra biển đảo là tích cực thực hiện định hướng về yêu nước”;
”Ngư dân VN quyết tâm giương cao ngọn cờ Độc lập Dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước”;
”Tuổi trẻ VN sống, lao động, học tập, chiến đấu, đánh cá và đánh giặc theo gương sáng các lão ngư dân xông pha giữ gìn chủ quyền biển đảo nước nhà”;
”Một chòi ngã xuống, ngàn chòi mọc lên”;
”Quyết tâm thực hiện xuất sắc Đại Đoàn Kết Ngư Dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, và Bảo Vệ Toàn Vẹn Chủ Quyền Đất Nước”;
”Toàn dân tích cực hưởng ứng Ngày Ngư Dân Giữ Biển”;
”Xây dựng Hội Nghề Cá VN vững mạnh là trực tiếp góp phần bảo vệ chủ quyển biển đảo VN”;
”Toàn dân quyết tâm xây dựng lực lượng nòng cốt ngư dân bảo vệ chủ quyền biển đảo VN”;
”Ngư dân VN quyết tâm ra sức rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc”;

4- Chuyển loa phường cả nước ra các chòi canh biển để địch vận:
Phát nhạc Tàu, đọc xã luận tiếng Tàu, liên tục hô vang khẩu hiệu tiếng Tàu:
”Đi lính là chết vô ích”;
”16 chữ vàng muôn năm/vạn tuế!”;
”Dùng vũ lực là đi trái lề văn minh nhân loại!”;
”Ăn gian là nhục! Ăn hiếp là hèn!”;
”Hảo hán không xài đại liên”;
”Phá chòi canh là thiếu tinh thần xây dựng”;
”Dùng tàu ngầm là thiếu tinh thần minh bạch”;
”Bắn đại bác là thiếu tinh thần thượng võ”;
”Ủi sập chòi, đâm chìm ghe… là thiếu tinh thần hữu hảo”;
”Láng giềng cưỡng hiếp láng giềng là ngang ngược xóa sạch phương châm 4 tốt”;
”Giết ngư dân Việt cũng bằng chém cha tổ phụ A.Q. của chúng mày”;

5- Nhiệm vụ của Tuyên Giáo TW:
Cốt lõi là bịt mồm phản biện. Nhưng, cụ thể sẽ bao gồm nhiều mũi nhọn hoạt động:

Một là, sau khi nâng pháp lệnh lên thành luật “Dân quân tự vệ biển – Lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên biển của Tổ quốc”, phải khẩn nghiên cứu để đưa luật này vào Hiến Pháp 2010. Ghi luôn cả khẩu hiệu khuyến khích di dân ra biển đảo nữa, cho chắc bắp. Hai là tổ chức hội thảo liên tục về chủ đề “Ngư dân và Nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo”. Liên tục đưa ra các khuyến nghị/phân tích/kết luận về tính đúng đắn của chủ đề và được đông đảo dư luận đồng tình.

Ba là khẩn đúc kết kinh nghiệm trong tranh chấp ở vùng biển Tây Nam vào những năm 80 của thế kỷ trước, khẩn soạn thảo/kiểm tra/biên tập lại toàn bộ tài liệu/cẩm nang hỏi đáp Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản trên trang mạng cpv.org.vn, sao cho thích nghi với tình thế mới/tiêu chí mới là: giặc bớt giận, dân thôi kêu. Đồng thời gấp rút nghiên cứu dự án Dạy tiếng Trung cho Lực lượng Nòng cốt Gìn giữ Chủ quyền Biển đảo Thiêng liêng của Tổ quốc.

Bốn là nghiên cứu/đề xuất/tổ chức/tuyển chọn nhân sự vào những cơ chế trực thuộc TW dùng để điều hành/chỉ huy/kiểm tra các đơn vị dân quân tự vệ biển, đặc biệt là để kiểm kê vũ khí đạn dược và chế tài việc lạm dụng vũ khí cho mục đích cá nhân hoặc gây thiệt hại cho tài sản XHCN.

Năm là nghiên cứu/đề xuất ra các loại huy chương/huân chương/kỷ niệm chương và các hình thức khen thưởng cho ngư dân xả thân bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Sáu là quy hoạch/tổ chức “chòi canh mẫu trên biển” để tập huấn và quay phim phóng sự.

Bảy là phát động thi đua liên tục về tìm hiểu biển đảo và đặt vè động viên phong trào Ngư dân bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Tám là: Đưa biển, đảo vào môn giáo dục quốc phòng, song song với các dự án Đưa sân golf ra đảo xa.

Chín là tổ chức trọng thị và an toàn, sau đó, tuyên truyền rộng rãi về những chuyến tham quan bất ngờ và chớp nhoáng của lãnh đạo các thứ, theo gương nhà thơ Trần Đăng Khoa từng kể chuyện về những lần tướng Giáp Văn Cương bí mật đột nhập lên đảo thăm lính.

6- Nghĩa vụ của Thông Tin-Truyền Thông:
Chính yếu là tụng ca chính sách, nhân rộng mô thức Lã Thanh-Kiu trên cả nước.

Đóng nút Facebook thành Fakebook xong rồi lần lượt tới YouTube, Flickr… và các mạng liên kết xã hội còn lại.

Khai trương tờ báo in/báo online “An Ninh Đại Dương” trên mạng CAND.com.vn, và tờ báo trực tuyến “Ngư Trường Trù Phú” thuộc mạng Công Thương mot.gov.vn.

Thực hiện bộ phim nhiều tập “Tầm Nhìn Xuyên Sóng Cả” để tuyên dương nếp sinh hoạt của ngư dân trên các chòi canh biển chung quanh những “cái giọt máu dưới ngầu ngầu bọt sóng” (như nhà thơ Trần Đăng Khoa từng mô tả các đảo chìm).

Phục hồi phong trào “Trong Thơ Có (lưới) Thép” – Mỗi thi nhân là một nhà quân sự/nhà hàng hải/nhà thiên văn/nhà khí tượng.

Đẩy mạnh chiến dịch phổ thơ thành nhạc theo chủ đề “Ngư Dân Anh Hùng và Vận Nước Nổi Trôi”, hoặc, vắn tắt là “Ngư Dân và Vận Nước”. Triển lãm ký họa/nhiếp ảnh/điêu khắc về chủ đề “Dáng Đứng Chòi Canh Tạc Vào Thế Kỷ”.

Phóng tác thành sách những anh hùng/liệt sĩ “Yết Kiêu Thời Đại”. Đặt hàng/triển khai những loạt phóng sự/bút ký tương tự như đoàn tàu không số chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam thời trước. Tổ chức những chuyến nữ học sinh/sinh viên ra khơi thăm biển đảo. Tổ chức dịch vụ Du Lịch Chủ Quyền Biển Đảo VN theo mô thức du lịch sinh thái trong bờ.

Tổ chức thi hoa hậu dân quân tự vệ biển.

*

Khắc Phục Mọi Khó Khăn!

Tạm thời liệt kê những khó khăn cần khắc phục trước mắt, theo dạng hỏi-đáp:

Làm sao cho nhân dân, đặc biệt là ngư dân, hoàn toàn ủng hộ chính sách bảo vệ chủ quyền biển đảo?

- Phải giáo dục nhân dân cho tới khi quán triệt về quan điểm/chủ trương Quốc Phòng Toàn Dân của đảng ta. Luật Dân quân tự vệ Biển chính là để hiện thực hóa chiến lược quốc phòng toàn dân, tận dụng sức dân (thay sức lính) để bảo vệ tổ quốc. Nói cách khác: Ở đâu có dân, ở đó có lực lượng vũ trang quần chúng, làm cho cả đất nước Việt Nam thành trận địa “thiên la địa võng” bao vây quân địch, kể cả ngay giữa trùng khơi.

Tàu cá của ta có súng có thể bị tàu nước khác nghi nhầm là cướp biển (kiểu Somali)?

- Không đáng lo. Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình đã tiên liệu: “Khi trang bị phải có giấy chứng nhận để đảm bảo cho họ có quyền giữ vũ khí mà tránh nhầm lẫn là cướp biển”. Có khi còn phải ghi mẫu giấy chứng nhận này vào bộ nguyên tắc ứng xử biển Đông cho mọi bên đều nhận diện cho rõ nữa cơ! Nếu “Trung với đảng” là phải đánh tan mọi nghi vấn về đảng cướp đêm/cướp ngày, thì, nguyên tắc “Hiếu với dân” không cho phép chúng ta để cho địch nghi nhầm ngư dân ta là cướp sông/cướp biển!

Tổ chức đội ngũ nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển ra sao?

- Đó là tiểu đội, trung đội hay đại đội do mỗi huyện quyết định tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Nếu đã là cấp đại đội thì phải có ban chỉ huy, có chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, chính trị viên… Có các tổ, các đội. Ví dụ, mỗi đội tàu có một tổ vừa lo đánh cá, vừa lo bảo vệ. Có sự phân chia và phối hợp. Ví dụ, trong mỗi vùng biển, mỗi tổ đánh cá ở một khu vực tọa độ nhất định. Khi bị tấn công, tổ đó vừa liên hệ với trong bờ, vừa có phối hợp với tổ khác để bảo vệ.

Làm sao ngư dân sống được trong điều kiện “Lều bạt chung chiêng giữa nước giữa trời/ Đến một cái gai cũng không sống được”?

- Thi sĩ thần đồng Trần Đăng Khoa đã cường điệu trong thơ ca thế thôi, chứ trên thực tế, cứ ngoái nhìn vào đội ngũ sửa lấp đường Trường Sơn thời đánh Mỹ trước đây, thì sẽ thấy ngư dân Trường Sa ta thời nay có dư khả năng khắc phục những điều kiện sống khắc nghiệt nhất, kể cả trên thuyền cá hay trên chòi canh biển. “Khó vạn lần dân liệu cũng xong” mà lị!

Thiếu tướng Bùi Sỹ Trinh, Chính ủy Cảnh sát biển (Bộ Quốc phòng), từng nhận định: “Hiện tượng ngư dân Việt Nam sang vùng biển của các nước đánh bắt hải sản và bị các lực lượng nước ngoài bắt, phạt tiền không giảm. Vẫn còn hiện tượng tranh chấp ngư trường, trộm cắp ngư lưới cụ trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ và các vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và các nước lân cận…”. Làm sao chấm dứt hiện tượng này?

- Phải giáo dục ngư dân ta thêm nữa thôi, không có cách nào khác.

Làm sao ngư dân biết chính xác vị trí tàu mình trên biển để tránh xâm nhập vào những vùng biển đang tranh chấp?

- GS Carl Thayer có nói: “Để trang bị các dụng cụ tối tân như hệ thống định vị cũng như các vũ khí cá nhân đòi hỏi rất nhiều ngân sách. Trong giai đoạn này ít nhất hàng trăm triệu đô la phải bỏ ra cho ngư dân mà điều này tôi tin là rất khó thực hiện”. Carl không thể rõ ta định trang bị loại/hiệu/đời súng nào cho ngư dân! Tuy nhiên, ta vẫn phải giáo dục rốt ráo ngư dân mình thôi. “Yêu cầu đặt ra là phải nắm vững pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế; tuyên truyền cho ngư dân, các tầng lớp nhân dân nắm chắc đường lối chủ trương của Đảng; đồng thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch…”.

Khi nào thì dân quân tự vệ được phép nổ súng?

- Dự Luật cho phép dân quân tự vệ, trong đó có dân quân tự vệ biển, được quyền nổ súng trong 3 trường hợp: Trường hợp thứ nhất, có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân khu và tương đương hoặc người chỉ huy các cấp được ủy quyền khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu. Trường hợp thứ hai, khi làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu, tuần tra bảo vệ biên giới, biển đảo phát hiện được địch ở mặt đất, trên biển hoặc trên không. Trường hợp thứ ba là đang thực hiện nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội và thực hiện quyền phòng vệ chính đáng.

Tàu của địch có súng lớn không?

- Các đoàn tàu Ngư Chính đều là chiến hạm cải trang. Ta không rõ họ được trang bị ra sao vì chưa được giải ngân cho các dự án điệp vụ/nghiên cứu. Chỉ nghe qua lời kể của ngư dân ta là “các tàu lạ có cả súng hai nòng lớn lắm y như là trên xe tăng đó! Nó phủ bạt che hết nhưng súng to lắm!”.

Liệu là một vụ nổ súng tự vệ hay vô ý cướp cò của dân quân tự vệ biển có trở thành lý cớ cho một cuộc chiến tranh quy mô giữa 2 nước không?

- Đó là một mối lo sâu xa và có cơ sở, tuy nhiên, với đường lối đối ngoại “mềm dẻo” trong cung cách “giao thiệp” của ta, có nhiều khả năng là lãnh đạo bên đối phương sẽ thông cảm cho vị thế bắt buộc/chính đáng phải tự vệ của ngư dân ta. Tư lệnh hải quân của ta “đã đặt thẳng vấn đề với tư cách là những người trên biển với nhau, (rằng) ngư dân của chúng tôi rất nghèo nên các ngài phải đối xử nhân đạo… Tuyệt đối không được bắn, không đánh chìm tàu của dân (nghèo)…”. Họ nói rằng họ cũng rất thông cảm. Bằng không, ta sẽ lặp lại lần nữa, rằng “VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý …”.

Tương quan lực lượng trên biển giữa ngư dân ta và hải quân địch thế nào?

- Đó là một tương quan không cân sức, cho dù là ta chưa biết hết sức mạnh quân sự thật của hải quân “bạn”. Tuy nhiên, đừng quên rằng “Lòng yêu nước nồng nàn là vũ khí” và, “Vũ khí tối tân không bằng toàn dân ra trận”, cứ nhìn vào tương quan quân đội của ta và Mỹ ngày trước, tất sẽ thấy rõ nguyên tắc cốt lõi vẫn là “Cần nhiều dân không cần nhiều súng”. Chính lòng căm thù và tình yêu nước của “Những người dũng cảm trong bóng tối” mới quyết định chiến thắng.

Ngư dân ta có e ngại việc mang súng lên tàu đánh cá sẽ là mối nguy hiểm không lường cho sinh mạng của họ không?

- Một ngư dân từng bị hải quân Trung quốc cướp, đánh đập và bắt giam cho biết: “Nói chung bây giờ họ giao súng em cũng không dám đâu, tàu của họ có súng hai nòng lớn lắm nếu có gì thì họ bắn chết”. Tuy nhiên, nhiều phần có thể nhận định này xảy ra là vì ta chưa giáo dục/tuyên truyền/động viên đúng mức ngư dân của mình về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc đó thôi! Những tác phẩm văn học nghệ thuật của ta về các trận chiến đánh Tây, chống Mỹ, diệt Khờ-me đỏ, và chống trả TQ trước đây đã lột tả/xiển dương/chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta từng vượt qua tất cả các nỗi sợ. Sau chòi canh, chúng ta sẽ dựng tượng đài trên biển.

Trước đây ta từng gặp tình trạng Tàu cứu hộ cứu nạn ra biển đứng chờ nạn nhân đi kiếm họ, còn tàu cá phải tự dò tìm các chiếc tàu bạn bị chìm và tự cứu vớt đồng nghiệp, cả người lẫn xác. Lắm khi thuyền thúng phải đi vớt người tàu cá. Ta khắc phục thế nào?

- Tình trạng xảy ra là vì tàu cứu hộ của VN không được vào vùng biển đó. Vừa rồi Đại tướng Lê Văn Dũng, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đi thăm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để “trao đổi kinh nghiệm, thắt chặt quan hệ, góp phần củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt Việt Nam – Trung Quốc”. Hy vọng từ đó ta sẽ cứu hộ dân ta dễ dàng hơn.

Trước đây ta cũng đã gặp tình trạng: “Tàu đặc chủng, lẫn máy bay trực thăng nào mà vuợt hàng trăm cây số để cứu anh em trong lúc trời biển cùng hiệp đồng tạo trận cuồng phong? Vĩnh biệt các thủ trưởng. Vĩnh biệt đất liền… Đó là những bức điện cuối cùng mà Sở Chỉ huy Quân chủng nhận được…”. Liệu là trong tương lai có gặp lại tình trạng đó nữa không?

- Khó biết được, tuy nhiên, chúng ta cũng đã có nhiều lúc nhiều nơi các ghe đánh cá tự cứu hộ cho nhau và đưa các nạn nhân vào bờ. Dân cứu dân thì khỏi phải “vĩnh biệt thủ trưởng!”.

Về “Ngày Ngư Dân Giữ Biển”, Thiếu tướng Võ Trọng Việt, chính ủy Bộ Tư lệnh Biên phòng, ủy viên Ủy ban Quốc phòng-An ninh QH cho rằng: “Nên lấy ngày mà Bác Hồ thăm hải quân (30/3/1959) để nói về biển, để tất cả chúng ta suy nghĩ và hành động, thì sẽ sớm khắc phục được khó khăn hiện nay”, có nên chăng?

- Bác đã một đi không trở lại, còn tuổi trẻ ngày nay không quan tâm nhiều về lịch sử thời của bác, thậm chí còn nghi ngờ các nhìn nhận của thế hệ trước. Còn hải quân ta thì đã thành một đám đông anh hùng Núp. Ngư dân mới là vai chính. Vai trò nòng cốt gìn giữ chủ quyền đất nước của ngư dân có được là nhờ QH. Vậy nên lấy ngày QH thông qua luật Dân Quân Tự Vệ Biển làm ngày Ngư Dân Giữ Biển là chính danh toàn vẹn.

*

Tản Luận Về Hư Chiêu?

Chiến lược Dân Quân Tự Vệ Biển, dù đã trưng qua QH và đã định hướng khắc phục khó khăn như trên, vẫn khiến lắm người hoang mang về các ý niệm “hư chiêu” nảy sinh đây đó:

Hư chiêu 1: Tàu phù gợi ý cho lãnh đạo ta nâng cấp pháp lệnh thành luật dân quân tự vệ biển để chờ 1 vụ cướp cò làm cớ khai hỏa? Xem ra xác suất không cao, bởi chính TQ cũng không thực sự chủ trương châm ngòi chiến tranh khu vực, đặc biệt là giữa những nhà nước XHCN hiếm hoi còn sót lại hôm nay.

Hư chiêu 2: Lãnh đạo ta thử nghiệm nước cờ “đánh dứ” để dò xem phản ứng bọn Tàu? Kể cũng khó, bởi phản ứng đó đã có sẵn/chưa thể quên: Từ đầu năm 2005, hải quân TQ đã bắn giết ngư dân Hòa Lộc (Thanh Hóa) rồi kéo xác về Hải Khẩu (đảo Hải Nam). Phát ngôn của Bộ ngoại giao TQ Khổng Tuyền bấy giờ tuyên bố rằng: Cảnh sát biển TQ đã “bắn chết một số người có vũ trang, bắt một tàu và tám người khác cùng vũ khí, đạn dược và ngư cụ”. (Không khác gì nhà nước ta chỉ bắt giam người vi phạm pháp luật chứ không bắt người bất đồng chính kiến!).

Hư chiêu 3: Lãnh đạo ta vừa mới coi bộ phim Thủy Chiến (thời nhà Minh) của điện ảnh TQ chiếu trên kênh HTV7, và muốn triển khai thành chính sách “Thương bang nuôi Ngư dân hải chiến thay cho triều đình”? Không hẳn, bởi đó là phim TQ thì Bắc Kinh chủ động đã phải nắm vững đối sách hơn ta học lóm.

Hư chiêu 4: Hà Nội tiến hành một thí điểm trong điện ảnh vẫn gọi là “đóng thay vai chính” (stuntmen) để rút kinh nghiệm cho hải quân VN? Hiệu ứng có thể thấy trước: Lãnh đạo ta thí điểm ngư dân cầm súng thì giặc cũng thí điểm bằng đoàn chiến hạm Ngư Chính để xem chủ trương của ta có thật thế không.

Hư chiêu 5: Ta thử nghiệm kế sách “Lính lẩn vào Dân-Lấy dân làm Mộc”? Cái khó là ngư dân ta chả dại: Tới lúc xảy ra sự cố, Bắc Kinh đòi phải giải quyết, nhà nước ta buộc phải “xử lý ở mức độ dân sự” các dân quân tự vệ biển về tội “cướp cò, gây thiệt hại trầm trọng…”, cho đẹp lòng các “Trên của Trên”, để giữ chặt ổn định mối giao hảo mọc rễ trên 16 chữ vàng, thì biết lấy ai nuôi vợ con?

- Luận gì thì luận. Thực hư gì cũng mặc. Làm cho nó tưởng là ngư dân mình có súng, thì: 1. là nó bùm trước cho chắc cú; 2. là nó kiểm tra khả năng bóp cò của ta xem có thật hải quân giả dạng ngư dân không; 3. là nó khạc đại bác/đại liên thử coi dân quân tự vệ mình “điếc không sợ súng” tới đâu. Đằng nào ngư dân cũng …chết chắc!

*

Chủ Quyền = Thế + Lực?

Thế yếu của VN là chính trị chư hầu. Lực yếu của VN là quân đội co rút. Không mấy ai nghe tin tàu lạ tấn công tàu cá của Phi, phải chăng vì chính phủ Phi ít “mềm dẻo” hơn ta?

GS.TS Trần Ngọc Thêm nói không sai: “Hãy thừa nhận một điều không phải lúc nào sự lãnh đạo của Đảng cũng đúng. Nhiều vụ việc trong quá khứ đã chứng minh điều đó, như vụ đấu tố, vụ khoán…”. Gần đây, lãnh đạo ta đã quyết định tự kéo tụt cả thế lẫn lực của VN (dẹp biểu tình/rước đuốc Olympic/câm nín trước mọi cưỡng bức… và cả tư túi tiền ngoại bang đấm mõm). Lý do chính yếu: Bắc Kinh không phải thuộc diện thế lực thù địch? Tàu lạ đánh đập/bắn giết/bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc cũng không phải thuộc diện thế lực thù địch?

Hai năm rõ mười:

Lãnh đạo Hà Nội lệ thuộc vào Bắc Kinh. Đường dây nóng chỉ để nhận lệnh thiên triều. Đảng bất lực trước Tàu. Đảng bất lực trên biển. Đảng tự tạo ra tình trạng vô chính phủ. Đảng tự đánh mất thế và lực cần thiết để khẳng định quốc thể và chủ quyền. Đảng chính là giặc nội xâm. Đảng tự ý xác nhận và khuếch đại tính nhược tiểu cho cả dân tộc. Đảng “bán cái”. Đảng không luyện binh nhuệ, đảng chỉ cần dân đông. Đảng quyết định “giao họa cho dân”. Đảng “thí điểm” ngư dân. Đảng làm luật tử hình tập thể ngư dân…

Dân đánh cá biển – Đảng đánh cá cược?

Trong một bài phỏng vấn mới đây về trận đánh hỏa công ở Long An thời kháng Pháp, Lão họa sĩ Hoài Nam đã kể lại:

“Đó là một trận đánh hồn nhiên. Khoảng năm 1945 khi tôi gia nhập Đội Thiếu niên tiền phong Thủ Thừa – Long An. Lúc này Pháp mượn cớ giải giáp Nhật để chiếm lại nước ta. Tôi bàn với các đội viên bày binh bố trận theo lối “hỏa công Xích Bích” trong Tam Quốc: Kết ghe thuyền lại với nhau, cắm cọc dưới đáy sông, rồi lợi dụng hướng gió, dùng hỏa công đánh tàu Tây trên sông. Kết quả là… thảm hại vì tàu giặc bằng sắt thép, hỏa lực lại mạnh. Bọn tôi người bị bắn, người bị bắt. Tôi trốn được lên Sài Gòn sống vất vưởng…”.

Hơn nửa thế kỷ sau trận đánh hồn nhiên đó, đảng CSVN lựa chọn cho nhân dân VN một Chiến Lược Hồn Nhiên khác: Lực lượng nòng cốt giữ gìn chủ quyền biển đảo VN là Dân Quân Tự Vệ Biển. Quốc hội ta cũng đang hồn nhiên thông qua. Hồn nhiên xác quyết đường lối Thậm Hèn Với Giặc-Cực Ác Với Dân!



Mọi chất vấn hay góp ý, nếu có, xin cứ hồn nhiên gửi về:
Chủ nhiệm UB Quốc phòng-An ninh QH khóa XII Lê Quang Bình
Số 26 ngõ 34A Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội.
20-11-2009 – Kính mừng Ngày Nhà Giáo/Chào đón các nhà chòi
Blogger Đinh Tấn Lực

Không có tin tức trên báo chí cũng như Facebook về tình trạng nhà báo bị đột quỵ


Nhà cầm quyền Việt Nam đang hành xử theo kiểu côn đồ đối với một số tù nhân lương tâm, giam giữ họ trong tình trạng sức khỏe rất kém. Linh mục Nguyễn Văn Lý, chủ bút một tờ báo đối lập, đã bị đột quỵ khi đang ở tù trong khi sức khỏe của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị hao mòn vì tình trạng khắc nghiệt trong tù.

Theo lời của Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới thì "Việc đối xử tàn nhẫn với những tù nhân chính trị, gồm cả những nhà báo và nhà văn, là không đúng với tư cách của một quốc gia vừa giữ chức Chủ tịch Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc. Sự thật kinh hoàng này thật xa vời với cái tên ’Việt Nam Mới’ mà thủ tướng Pháp Francois Fillon mới ngợi khen trong cuộc viếng thăm mới đây."

Tổ chức này nói thêm: "Dựa trên tính khẩn cấp của những trường hợp về nhân quyền trên, chúng tôi chờ đợi phản ứng công khai của Liên Hiệp Âu Châu, hiện đang đối thoại với Việt Nam về vấn đề nhân quyền mà cho tới nay vẫn chưa mang lại kết quả nào."

Người dân Việt Nam không thể tìm thấy những tin tức này trên báo chí, nhất là mới đây nhà cầm quyền vừa ban hành một chỉ thị mới, trong đó điều 7 quy định việc phổ biến những tin tức "không phù hợp với quyền lợi quốc gia và nhân dân" có thể bị phạt tiền rất nặng; nhà báo có thể bị rút thẻ hành nghề.

Những người Việt Nam sử dụng internet cũng không thể tìm thấy tin tức về những trường hợp này trên mạng xã hội Facebook, mà hầu như hoàn toàn không thể mở được. Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam giải thích tại sao những người sử dụng internet tại Việt Nam lại gặp quá nhiều vấn đề khi mở trang web này. Việt Nam đang mắc sai lầm nếu họ bắt chước Trung Quốc hành xử nhắm vào Facebook.

Những người sử dụng internet tại Việt Nam cho tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới biết là họ đã gặp rất nhiều khó khăn khi mở trang web Facebook trong tuần lễ vừa qua. Trang web này được hơn một triệu người Việt Nam sử dụng và đa số những người này dùng trang web Facebook bằng tiếng Việt do chính Facebook , trụ sở tại Hoa Kỳ, thực hiện.

Hãng thông tấn Associated Press đã trích lời một kỹ thuật viên của công ty cung cấp dịch vụ internet Vietnam Data Corp, nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã ra lệnh cho họ phải chặn trang web Facebook.

Tù nhân lương tâm

Cha Nguyễn Văn Lý, một linh mục công giáo, đã bị đột quỵ vào ngày 14 tháng 11 trong phòng giam tại cánh 11, trại tù Ba Sao, mà ông đã bị giam từ năm 2007. Gia đình ông cho biết nửa người bên phải của ông bị liệt. Ông đã được chuyển đến bệnh viện tại thủ đô Hà Nội và việc sử dụng tay phải đang chầm chậm hồi phục.

Bộ trưởng Công An hồi tháng 9 nói rằng sức khỏe linh mục Lý trong tù được bảo đảm. Mặc dù vậy đã có những vấn đề trầm trọng trước đột quỵ như xuất huyết, bị té, và những triệu chứng tiền đột quỵ - chắc chắn là có liên hệ tới bệnh cao huyết áp của ông.

Là chủ bút của tờ báo đối lập Tự Do Ngôn Luận, linh mục Nguyễn Văn Lý đang thi hành bản án tám năm tù về tội "tuyên truyền chống lại nhà nước."

Sức khỏe của nhà văn, đồng thời là nhà đấu tranh nhân quyền, Trần Khải Thanh Thủy đã bị suy sút trầm trọng sau khi bị thuyên chuyển tới nhà tù Hoa Lư gần Hà Nội vào ngày 19 tháng 10. Bà đã bị đánh khi bị bắt với cái tội được dựng lên là "hành hung nghiêm trọng". Bị bệnh tiểu đường ở thời kỳ tiến triển, bà đã bị từ chối việc chữa trị trong lần ở tù trước.

Những nhà đối kháng khác gặp nhiều vấn đề trong tù. Nhà giáo Vũ Hùng đã tuyệt thực để phản đối bản án ba năm vì đã kêu gọi một thể chế dân chủ đa nguyên. Luật sư và blogger Lê Thị Công Nhân với bệnh dị ứng càng trầm trọng thêm vì điều kiện trong tù. Trong một phòng giam, chỉ rộng 50 mét vuông, chung với 60 tù nhân khác, cô phải ngủ trên một chiếc chiếu chỉ rộng 60 cm.

Có it nhất 21 nhà báo và bloggers hiện đang bị giam tù tại Việt Nam.

Nguồn: http://www.rsf.org/spip.php?page=article&id_article=35037

Reporters sans frontières

CTM phỏng dịch

2009/11/21

Giải Thưởng Nhân Quyền Hàn Quốc Sống Lại Năm 2009


Cùng với các giải thưởng đề cao hòa bình và nhân quyền khác trên thế giới, Giải Thưởng Nhân Quyền Hàn Quốc (Nam Hàn) cũng được trao tặng vào tháng 12 hàng năm. Càng ngày nhân loại càng tụ về ngày ra đời của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (mồng 10 tháng 12) như tâm điểm để tuyên dương những người đã và đang đóng góp cho nền hòa bình thế giới và đề cao giá trị của con người. Cả hai nỗ lực này đã được cụ thể hóa bằng những quyền đương nhiên của con người ghi rõ trong bản Tuyên Ngôn. Có thể nói mỗi năm trôi qua từ sau thế chiến thứ hai đến nay, tháng 12 ngày càng rõ nét là Tháng Nhân Quyền của nhân loại. Và hiển nhiên đây cũng là tháng tạo nhiều bực dọc nhất cho các chế độ độc tài còn hiện diện trên trái đất.

Nhưng dù đang lúc có hàng trăm giải nhân quyền được tuyên bố khắp nơi, Giải Thưởng Nhân Quyền 2009 của chính phủ Hàn quốc vẫn nổi bật và tạo nhiều ngạc nhiên cả bên trong lẫn bên ngoài quốc gia này. Đối tượng được chọn để nhận giải là một tổ chức đấu tranh đòi nhân quyền cho người dân Bắc Hàn có tên là Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn. Có nhiều điều đáng nói và đáng suy ngẫm về tổ chức này.

Trước hết, Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn là tổ chức của những người từng say mê ủng hộ Nhà Nước Cộng Sản Bắc Hàn. Họ bị đại khối dân chúng Nam Hàn ghét cay ghét đắng, bị gọi là đám “phản chiến”, “thân cộng”, v.v… nhưng các thành viên vẫn kiên quyết với lý tưởng họ đã chọn. Một trường hợp tiêu biểu của nhóm là nhà văn rất nổi tiếng Huỳnh Tích Ánh. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, có lúc ông trốn sang Bắc Hàn sống mấy năm. Dĩ nhiên, ông lập tức được Đảng và Nhà Nước Bắc Hàn nồng nhiệt chào đón. Ông được đưa vào sống giữa một môi trường nhỏ mà mọi chi tiết chung quanh đều là cảnh dàn dựng — từ chế độ ăn, ở đến các chiếu cố đặc biệt như gặp gỡ “Lãnh Tụ Vĩ Đại” Kim Nhật Thành, đi tham quan các thành tựu của đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa, và dĩ nhiên được nghe giảng thuyết kỹ lưỡng về các kinh điển của Kim Lãnh Tụ. Sau đó ông dũng cảm trở lại miền Nam để lãnh nhận 5 năm tù về tội cố tình vi phạm luật an ninh quốc gia. Nhưng ngay khi còn trong tù và liên tục sau khi mãn hạn tù ông Huỳnh Tích Ánh miệt mài tuyên truyền cho đời sống ấm no và cao đẹp tại Bắc Triều Tiên, cũng như kịch liệt phê bình chính sách phòng thủ của chính quyền Nam Hàn.

Mãi đến khi bức tường Bá Linh xụp đổ và những con người thật tại các quốc gia Đông Âu mô tả cuộc sống đầy sợ hãi dưới cái bóng ngày đêm của công an chế độ, những nhà phản chiến Nam Hàn mới bắt đầu đặt dấu hỏi về những nhận thức của mình. Và liên tục nhiều năm sau đó, hàng ngàn gia đình tại Bắc Hàn chấp nhận những con đường 1 sống 10 chết để đào thoát. Đây là những con người mà ngay cả đời sống bần cùng của nông dân nghèo Trung Quốc đã là thiên đàng đối với họ. Các bằng chứng về sự tàn ác và kiệt quệ của chế độ độc tài Bắc Hàn không chỉ được mô tả qua những câu chuyện hãi hùng họ kể bằng miệng, mà còn thể hiện rành rành ngay trên thân thể, khuôn mặt, và ngay cả màu tóc của họ (nhiều người có tóc “râu ngô” vì thiếu lương thực và khoáng chất lâu ngày). Không ai, kể cả bộ máy tuyên truyền của chính phủ Nam Hàn, có thể ngụy tạo các nhân chứng này. Hàng ngàn câu chuyện thương tâm với những chi tiết đồng bộ về một thực tế kinh hoàng đằng sau bức tranh che đậy trước thế giới, kể cả những nhân chứng về nạn ăn thịt người để khỏi chết đói.

Trước những sự thật đau xót này, ông Huỳnh Tích Ánh và các đồng chí của ông đã làm 2 điều vô cùng can đảm và khó khăn. Trước hết các ông dám công nhận là những hiểu biết của mình về chế độ cộng sản Bắc Hàn quá sai với thực tế. Nói cách khác, các ông dám công nhận mình đã bị lừa bịp trong nhiều năm dài mà không biết. Nhưng hơn thế nữa, những con người đầy lý tưởng này không chọn thái độ “ê chề, bỏ về sống ẩn dật đến hết đời”. Họ chọn con đường tranh đấu cho những nạn nhân Bắc Hàn. Chính sự chọn lựa “quên mình vì người khác” này đã làm chuyển hướng cách đánh giá của dân chúng Nam Hàn đối với họ. Niềm cảm phục từ từ dâng lên.

Thật vậy, Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn lao vào tranh đấu với cùng mức nhiệt huyết của 20 năm trước. Họ bỏ rất nhiều công sức đi thu thập các tin tức, dữ kiện về các vụ vi phạm nhân quyền của hệ thống cai trị Bắc Hàn để tố cáo trước dân tộc và thế giới. Những bằng chứng mà Mạng Lưới đưa ra đều là chuyện sống thực, với đầy đủ nhân chứng và rất khó chối cãi. Chính vì vậy mà các lãnh tụ tại Bình Nhưỡng chỉ còn cách vu cáo tổng quát đây là những thế lực thù địch cố tình bôi bác chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Cá nhân nhà văn Huỳnh Tích Ánh gởi thư nhiều lần cho “Lãnh Tụ Kính Yêu” Kim Chính Nhật để tha thiết kêu gọi hãy bãi bỏ một số chính sách quá ác nghiệt đối với nhân dân. Nhưng đáp lại, ông Ánh chỉ nhận được câu nhắn hãy cố gắng công tác tốt để chóng giải phóng miền Nam; đến khi đó thì tự do, nhân quyền và tất cả mọi thứ đều có hết.

Điều thứ nhì tạo sự ngạc nhiên về Giải Thưởng Nhân Quyền Hàn Quốc 2009 là trong gần 2 thập niên qua, trong lúc sự cảm mến của dân chúng đối với Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn ngày càng dâng lên, thì các chính phủ Nam Hàn lại duy trì khoảng cách đối với tổ chức này. Cụ thể như việc Giải Thưởng Nhân Quyền Hàn Quốc đã được Tổng thống Kim Đại Trung thiết lập vào năm 2001 để tuyên dương những ai có công đóng góp vào việc bảo vệ nhân quyền cho thế giới, đặc biệt cho người Triều Tiên. Với tiêu chí đó, đáng lý ra tổ chức Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn phải được tặng giải thưởng này từ lâu. Tuy nhiên, Tổng thống Kim Đại Trung và người kế vị ông là Tổng thống Lô Vũ Huyễn đều không dám trao vì sợ làm căng thẳng mối giao hảo với Bình Nhưỡng. Và cũng chính sự tránh né đó đã làm Giải Thưởng Nhân Quyền Hàn Quốc trở nên “vô vị” trong mắt dân chúng. Tuy xã hội Nam Hàn chưa hoàn hảo nhưng mức độ thực thi và bảo vệ nhân quyền tại đây đã rất cao. Việc trao giải thưởng cho các hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền tại Nam Hàn bị xem là “vô nghĩa”, trong lúc mấy chục triệu đồng bào của họ đang sống thực sự như những cỗ máy tại Bắc Hàn.

Năm nay, chính phủ của Tổng Thống Lý Minh Bác đã lật ngược khuynh hướng tránh né kể trên. Nhiều nhà quan sát thời sự Triều Tiên công nhận rằng việc chọn Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn không chỉ tạo nhiều ngạc nhiên mà còn thực sự làm sống lại giải thưởng cao quí này trong lòng dân chúng Nam Hàn. Hơn thế nữa, hành động này đánh dấu sự thay đổi tư thế của chính quyền Tổng thống Lý Minh Bác trong việc đối phó với chính quyền Bình Nhưỡng sau mấy thập niên thất bại của kế sách hòa hoãn. Hiển nhiên, toàn bộ hệ thống tuyên truyền của Bắc Hàn lập tức lên tiếng chỉ trích thậm tệ về giải thưởng, về tổ chức phát giải và về đối tượng nhận giải. Đặc biệt những lời lẽ cay cú nhất được dùng để tấn công những người đồng chí cũ nay là các thành viên tích cực của Mạng Lưới Dân Chủ Hóa Bắc Hàn.

Dám sống đúng với lý tưởng của mình đã là điều khó. Và càng khó hơn nữa khi dám nhận một phần đời của mình là sai lầm và ra sức làm ngược lại trong khoảng đời còn lại. Thế giới được nhìn thấy những tấm gương đáng kính này ở nhạc sĩ phản chiến Joan Baez, ở cựu Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev, ở cựu Thủ Tướng Triệu Tử Dương, v.v… Và dân tộc Việt Nam cũng không thiếu những tấm gương can đảm của nhà cách mạng lão thành Nguyễn Hộ, của cựu tướng Trần Độ, của phó tổng biên tập Bùi Tín, và nhiều trái tim khác đang chuyển hướng. Ngày đất nước sống lại gần hay xa tùy thuộc một phần lớn vào những con người can đảm này.

Ngô Văn

2009/11/20

Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Lo Ngại Tình Trạng Sức Khỏe Nguy Kịch Của Hai Tù Nhân Lương Tâm


Mạng Lưới Hành Động Cấp Kỳ
Ngày 18 tháng 11, 2009
RAN 55/09

Việt Nam: Lo Ngại Tình Trạng Sức Khỏe Nguy Kịch Của Hai Tù Nhân Lương Tâm

Ủy Ban Các Nhà Văn Bị Tù Tội của Tổ Chức Văn Bút Thế Giới vô cùng lo ngại về tình trạng sức khỏe của 2 nhà văn bị giam cầm tại Việt Nam. Nhà văn hoạt động dân chủ Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giam từ ngày 8/10/2009, mà không được dùng phương tiện y tế chữa bệnh trong tình trạng khẩn cấp của Bà. Trần Khải Thanh Thủy bị bệnh tiểu đường và bệnh lao phổi, và có sự quan ngại là tình trạng sức khỏe của Bà đang xuống dốc trầm trọng trong nhà tù.

Ngoài ra tổ chức Văn Bút Thế Giới (PEN) cũng vô cùng lo ngại về sức khỏe của Lm. Nguyễn Văn Lý; có báo cáo rằng ngài bị tai biến mạch máu não ngày 14-11-2009 và đã được đưa về bệnh viện Hà Nội. Văn Bút Thế Giới đã có yêu cầu bảo đảm tức khắc về sự an toàn sức khoẻ của hai vị kể trên và đòi hỏi rằng họ phải được chăm sóc y tế đầy đủ. PEN cũng đòi hỏi cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và Lm. Nguyễn Văn Lý được trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện trên căn bản nhân đạo, hợp với điều 19 Công Ước Quốc Tế về Quyền Công Dân và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết tôn trọng.

Theo tin của PEN, Trần Khải Thanh Thủy bị bắt ngày 08-10-2009 chỉ vì Bà đã công khai tuyên bố ủng hộ 6 nhà dân chủ bị xử án. Trong ngày Bà bị bắt, một sự việc đã xẩy ra tại nha Bà, mà nội vụ còn mờ ám, chưa rõ ràng. Trần Khải Thanh Thủy đã bị cáo buộc tội hành hung, mặc dù ai cũng tin rằng chính Bà mới là nạn nhân của cuộc hành hung và bị nhắm đến vì những bài viết và hoạt động của Bà.

Trần Khải Thanh Thủy là một cây viết nổi tiếng về văn, thơ, bình luận và là chủ bút của báo “Tổ Quốc”, là một tờ báo chui trước đây. Bà đã bị theo dõi và trù dập nặng nề từ tháng 9 năm 2006 về những phê bình của Bà đăng trên internet. Bà đã bị bắt trước đây hồi tháng Tư năm 2007 và bị tù 9 tháng, và kể từ ngày Bà được thả vào tháng Giêng năm 2008, bà đã bị theo dõi gay gắt. Hiện tại Bà đang bị giam tại nhà tù Hỏa Lò mới, gần Hà Nội. Trần Khải Thanh Thủy là hội viên Danh dự của Văn Bút Anh (English PEN), Hội viên của Công Đoàn của Những Nhà Văn và Câu Lạc Bộ Các Nữ Thi Sĩ Tại Hà Nội, và là người được giải thưởng Hellman Hammet Award. Chi tiết thêm tại http://www.englishpen.org/writersinprison/writersunderthreat/vietnam/trankhaithanhthuy/ hay là http://www.englishpen.org/writersinprison/writersunderthreat/vietnam/trankhaithanhthuy/

Cha Nguyễn Văn Lý, một linh mục Công Giáo đồng chủ bút của tờ báo chui Tự Do Ngôn Luận đã bị bắt ngày 19/02/2007 và bị kết án 8 năm tù vào ngày 30/07/2007 về tội “có hành vi chống nhà nước”. Lm. Nguyễn Văn Lý là một trong những thành viên lãnh đạo “Khối 8406”. Trước đây Ngài đã bị giam giữ từ 1977 đến 1978 và một lần nữa từ năm 1983 đến 1992 về những hoạt động đòi hỏi quyền tự do ngôn luận và tôn giáo. Trong lần khác ngài đã bị kêu án 15 năm vì ngài đăng tải những bài bình luận về sự vi phạm nhân quyền tại Việt Nam trên internet, và là trường hợp chính đáng được PEN tranh đấu ủng hộ; ngài được thả vào tháng 2 năm 2005 (xin xem những bản lên tiếng trước đây).

Xin gửi những kiến nghị để:

• Bày tỏ sự quan ngại nghiêm trọng về tình trạng sức khỏe của hai văn bút Trần Khải Thanh Thủy và Nguyễn Văn Lý, yêu cầu là họ phải được điều trị y tế đầy đủ và đúng lúc cần thiết

• Kêu gọi họ phải được trả tự do tức khắc vô điều kiện trên căn bản nhân đạo, theo điều 19 Công Ước Quốc Tế Về Quyền Công Dân và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết tôn trọng.

Những kiến nghị yêu cầu xin gửi về:

Ông Nguyễn Minh Triết
Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Văn Phòng Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, Việt Nam.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
Số 1 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội
Việt Nam

Lê Doãn Hợp
Bộ trưởng Thông Tin Văn Hoá
Số 1 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội
Việt Nam

Ghi Chú: Xin lưu ý là nhà nước Việt Nam không công bố những số fax, nếu muốn bạn có thể yêu cầu những nhân viên ngoại giao Việt Nam tại quốc gia của mình cư ngụ để họ chuyển những kiến nghị của bạn. Cách tốt hơn là bạn yêu cầu các nhân viên ngoại giao của nước mình tại Việt Nam can thiệp về vấn đề nầy.

Một số những Toà Đại Sứ của Việt Nam trên thế giới:

http://www.embassiesabroad.com/embassies-of/Vietnam

*** Xin gửi kiến nghị ngay lập tức. Nếu gửi sau ngày 15 Tháng 12 2009, xin vui lòng liên lạc với Văn Bút Thế Giới.

PEN

Chi tiết liên lạc PEN:
Xin liên lạc về Cathy McCann, International PEN Writers in Prison Committee, Brownlow House, 50/51 High Holborn, London WC1V 6ER, Tel.+ 44 (0) 20 7405 0338, Fax: +44 (0) 20 7405 0339, email: cathy.mccann@internationalpen.org.uk

2009/11/19

Người sử dụng ở Việt Nam lo ngại trang mạng Facebook bị ngăn chận


(Hà Nội, Việt Nam - Ngày 17/11/2009) - Đội ngũ người sử dụng trang Facebook ở Việt Nam hiện đang lo ngại nhà nước CSVN có thể ngăn chận trang mạng xã hội này, bởi vì suốt mấy tuần qua họ không thể nào truy cập được.

Trang mạng Facebook hiện đang có khoảng 1 triệu người sử dụng ở Việt Nam, và con số này hiện đang tăng vùn vụt kể từ khi công ty này bổ sung thêm phần tiếng Việt cho người sử dụng.

Việt Nam là một quốc gia mà nhà nước luôn áp đặt việc kiểm soát thông tin. Suốt mấy tuần qua người sử dụng gặp nhiều khó khăn trong việc truy cập vào mạng Facebook, lúc được lúc không. Những khó khăn này còn tùy thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ nào.

Dường như việc truy cập các trang mạng nổi tiếng đều gặp phải khó khăn ở cái quốc gia có 22 triệu người sử dụng internet với dân số 86 triệu dân này.

Các viên chức nhà nước và lãnh đạo các công ty cung cấp dịch vụ internet do nhà nước kiểm soát đều hoàn toàn giữ im lặng, không bình phẩm gì cả. Tuy nhiên các chuyên viên kỹ thuật tại một công ty cung cấp dịch vụ internet thuộc hàng lớn nhất VN nói rằng liên tiếp những tuần qua họ nhận được điện thoại của người sử dụng than phiền rằng họ không thể truy cập vào mạng Facebook được.

JPEG - 30.7 kbVũ Hoàng Liên, Giám đốc công ty VDC

Một chuyên viên kỹ thuật của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) nói rằng hôm 11 tháng 11 nhà nước đã ra lệnh cho công ty phải ngăn chận trang mạng này. Anh ta không cho biết tên tuổi vì nói rằng mình không được phép tiếp cận báo chí. Tuy nhiên, ông Vũ Hoàng Liên, Giám đốc công ty VDC nói rằng ông không hề hay biết lệnh này.

Bà Debbie Frost, phát ngôn nhân của Facebook cho biết những than phiền về khó khăn trong truy cập chưa đến tai tổng hành dinh của Facebook tại Palo Alto. Bà nói: "Chúng tôi rất là thất vọng nếu người sử dụng ở bất kỳ quốc gia nào gặp khó khăn trong việc truy cập".

Đa số người sử dụng ở Việt Nam dùng trang mạng này để giữ liên lạc với bạn bè thân nhân, giao lưu thân hữu với nhau, chia sẻ hình ảnh, trang web và Blogs.

Hồi đầu năm nay, nhà nước Việt Nam bắt đầu xiết chặt quản lý các trang Blogs cá nhân, cấm đoán việc trao đổi quan điểm chính trị và giới hạn việc đăng tải các vấn đề cá nhân.

Công an đã bắt giam nhiều chủ Blogs chỉ vì những bài viết chính trị "nhạy cảm".

Ben Stocking (Associated Press - AP)

Lê Minh chuyển dịch

Năm Rủi Ro Chính Trị Tại Việt Nam


Ngày 7 tháng 10 năm 2009, hãng thông tấn Reuters đã phổ biến một tài liệu nghiên cứu về tình trạng rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam của Andrew Marshall và John Ruwitch. Trong tài liệu này hai ông đã đưa ra năm lý do dẫn đến những bất ổn tại Việt Nam gồm: Tham nhũng; Tính hiệu quả của chính quyền; Chính sách tỉ giá hối đoái; Bất ổn định xã hội và Môi trường.

Tham nhũng là một đặc tính ở Việt Nam và đang là rào cản rất lớn đối với các chủ đầu tư nước ngoài. Hà Nội tuyên bố một cách cứng rắn là sẽ tận diệt tham nhũng và khuyến khích báo chí đóng vai trò giám sát; nhưng trong thực tế, Hà Nội đã không những không dám ra tay triệt hạ những đường dây tham nhũng lớn ở các Bộ mà còn bắt giữ và kết án nhiều nhà báo đã có công trong việc phơi bày những vụ án tham nhũng trước công luận. Giống như Trung Quốc và nhiều quốc gia cựu Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô, tham nhũng đã trở thành một quán tính tự nhiên trong sinh hoạt của các đảng Cộng sản. Nó chính là ngõ ngách để cán bộ thăng quan tiến chức với giá cả đã được định trước.

Tính hiệu quả của chính quyền là sự vận hành minh bạch và hợp lý hóa các thủ tục pháp lý trong bộ máy hành chánh. Trong thực tế, với nạn tham nhũng, thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, đồng thời chú trọng quá nhiều vào nhu cầu bảo vệ an ninh cho chế độ, sự vận hành bộ máy hành chánh ở Việt Nam đã bị các nhà đầu tư đánh giá là tồi tệ và không hiệu quả.

Chính sách tỉ giá hối đoái của Việt Nam thường xuyên gây áp lực lên nền kinh tế. Các nhà đầu tư kỳ vọng Hà Nội nới rộng hành lang thương mại cho đồng Việt Nam, hoặc từ từ phá giá nó một lần nữa; nhưng việc này đã không được thực hiện khiến cho những rủi ro về khủng hoảng tài chánh ở Việt Nam có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Bất ổn định xã hội đang là nguy cơ lớn bùng vỡ tại Việt Nam khi số lượng đình công của công nhân ngày càng gia tăng, và những vụ xung công đất đai hoặc chiếm đoạt của dân bởi các quan chức tham nhũng địa phương ngày càng nhiều. Những vụ tranh chấp đất đai của nông dân đã không hề được Hà Nội giải quyết một cách nghiêm chỉnh, tạo ra những bất ổn lớn tại khu vực nông thôn. Trong khi đó, vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc cũng là một ngòi nổ đến từ sự bất mãn của quần chúng trước thái độ quá hèn yếu của Hà Nội đối với Bắc Kinh.

Môi trường cũng đang là nguồn gốc của bất ổn xã hội ngày càng tăng, giống như Trung Quốc. Với bờ biển dài, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi mực nước biển dâng lên, đặc biệt là vựa lúa đồng bằng sông Mê Kông.

Những phân tích rủi ro của hai ông Andrew Marshall và John Ruwitch dựa nhiều vào nhu cầu đầu tư nên sự đánh giá mang tính chất khuyến cáo cần quan tâm theo dõi, hơn là vạch ra những nguy cơ sinh tử mà Hà Nội đang phải đối diện. Nói cách khác, năm rủi ro chính trị nói trên là những hiện tượng xảy ra khá phổ thông tại những quốc gia độc tài mà một người không cần có chuyên môn cũng có thể nhìn thấy. Đây là những rủi ro do chính chế độ độc tài cộng sản sản sinh ra trong quá trình áp dụng những biện pháp cải cách nửa vời chứ không phải là những rủi ro hay khó khăn đến từ các sức ép chính trị của phong trào dân chủ. Đây là điều thiếu sót rất lớn trong phần lượng định của hai ông Andrew Marshall và John Ruwitch.

Chính vì nhìn trên nhãn quan đầu tư, bản lượng duyệt và phân tích về năm rủi ro chính trị tại Việt Nam của hai ông Marshall và Ruwitch không phản ảnh mối lo sinh tử của chế độ Hà Nội hiện nay.

Trong bản báo cáo đánh giá những yếu kém và nguy cơ đe dọa chế độ, phổ biến trong Hội nghị Trung ương đảng giữa nhiệm kỳ vào đầu tháng 1 năm 2009, Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã cho là họ đang đối diện những nguy cơ dựa trên 3 lãnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị như sau:

Về lãnh vực kinh tế: Đầu tư không có hiệu quả khiến cho chất lượng, năng xuất và khả năng cạnh tranh rất là yếu kém. Nông nghiệp giảm xuống còn 20% GDP nhưng lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm tới 60% cho thấy là vấn đề thay đổi cơ cấu kinh tế và chuyển dịch lao động bất cân xứng. Lý do dễ hiểu là Hà Nội không có khả năng cải tổ nền kinh tế sang hướng thị trường mà chỉ làm chấp vá. Tình hình này kéo dài thì những bất cân xứng của nền kinh tế sẽ bùng vỡ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế như đã từng thấy ở Đông Âu (1985), Đông Nam Á (1997).

Về lãnh vực xã hội: Quá chậm chạp trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội. Quản lý tài nguyên, môi trường lỏng lẻo; tình trạng khai thác tài nguyên và cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến, một số trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

Về lãnh vực chính trị: Nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia còn quá hạn chế. Vấn đề tập trung chỉ đạo, điều hành còn phân tán, thiếu dứt điểm và trong quá trình điều hành, cái yếu là kỷ cương phép nước không nghiêm. Hiện tượng “trên bảo dưới không nghe”, “trên nói một đàng dưới làm một nẻo” còn khá phổ biến, hạn chế hiệu quả trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, các quan điểm và đường lối.

Những diễn biến tiêu cực của ba lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị ở trên đã dẫn đến một vấn đề mà lãnh đạo Hà Nội cho là đã không lường hết được mức độ nguy hại lẫn rủi ro chính trị cho đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Đó là vấn đề “tự diễn biến nội bộ”. Tức là nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam đang bị các thế lực chống đối kích động nhằm tạo sự chuyển hóa từ bên trong để thúc đẩy quá trình tự đào thải ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản.

Kinh nghiệm từ những cuộc vận động dân chủ ở Đông Âu cách đây 20 năm, chúng ta thấy là khi nội bộ gồm những đảng viên, cán bộ cộng sản bắt đầu chuyển hóa từ bên trong, sẽ tạo ra một làn sóng bỏ đảng có thể bùng vỡ bất cứ lúc nào. Đây mới đích thực là nguy cơ chính trị mà đảng Cộng sản Việt Nam đang phải đối phó trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng toàn quốc kỳ XI vào tháng 1 năm 2011.

Trung Điền
19/11/2009

Không thể xuyên tạc yêu nước thành “Diễn biến hòa bình”


Trung Quốc ngang ngược quyết định thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam một lần nữa lại lên tiếng phản đối yếu ớt bằng một lời lẽ hết sức ngoại giao rằng như thế là “vi phạm chủ quyền Việt Nam”.

Phía Việt Nam cho rằng hành động này của Trung Quốc là “không có lợi cho quá trình đàm phán, tìm kiếm biện pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển giứa hai nước”.

Việt Nam khẳng định quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Quốc đang chiếm giữ và vừa tuyên bố thành lập đơn vị hành chính uỷ ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật là thuộc chủ quyền Việt Nam. Việt Nam mong muốn được giải quyết hoà bình theo luật biển quốc tế.

Quyết định của Trung Quốc ban hành ngay khi tổng thống Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm và làm việc tốt đẹp với họ.

Các cá nhân quan chức cao cấp nhất trong lãnh đạo Việt Nam trước sau như một, chưa cá nhân nào bày tỏ rõ chính kiến về chủ quyền, lãnh thổ đất nước trước những sự xâm phạm của Trung Quốc. Trái lại từ tổng bí thư đến thủ tướng và các uỷ viên Bộ Chính Trị đều bày tỏ quan hệ ngoại giao giữa hai nước là “hoàn toàn tốt đẹp, bền vững muôn đời”.

Bởi vậy hành vi xâm chiếm, bắn giết và chiếm giữ ngang ngược của chính quyền Trung Quốc với lãnh thổ Việt Nam được gọi nhẹ nhàng là “vi phạm chủ quyền’’. Một hành đồng xâm lược ngang nhiên đã bị nhẹ nhàng hoá, đơn giản như việc tranh chấp nhỏ giữa hai địa phương của hai nước.

Sở dĩ nhà cầm quyền Việt Nam không muốn tỏ ra mạnh mẽ trước hành động của Trung Quốc là do nhiều yếu tố đưa đến. Những yếu tố này bị chi phối vì những quyền lợi của chính thể Việt Nam, do đó chúng được diễn giải với nhân dân bằng cụm từ “nhạy cảm, tế nhị’’.

Trong 4000 năm lịch sử của đất nước và dân tộc Việt Nam, đây là lần đầu tiên và duy nhất một chính thể cầm quyền coi việc ngoại bang xâm chiếm chủ quyền đất nước là việc “tế nhị, nhạy cảm’’?. Những quyền lợi ở đây cụ thể là ghế ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng Công Sản Việt Nam, những chiếc ghế này được củng cố bởi sự tác động của Trung Quốc. Đó là điều mà tại sao chưa có uỷ viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN nào dám khảng khái lên tiếng. Mà sự việc chỉ đẩy cho phát ngôn viên Bộ ngoại giao phát lời như một cuộn băng ghi sẵn, một cái máy nói không hơn.

Một trong những nguyên nhân nữa là tâm lý của người dân Việt Nam, ít nhiều sự tự trọng về chủ quyền đất nước còn rất thiêng liêng và cao cả. Đặc tính này là do lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành và còn tồn tại đến ngày nay.

Nhưng tâm lý cao thượng này của những người Việt Nam yêu nước lại được những nhà cai trị Trung Quốc bóp méo để nhắc nhở, răn đe nhà cầm quyền Việt Nam đó là mầm mống của “diễn biến hoà bình’’, có nguy cơ xoá sổ cả chính thể cầm quyền là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Quốc còn vạch ra những ý kiến phản đối hành động bạo ngược của Trung Quốc là âm mưu nhằm làm tổn hại quan hệ hai nước, gây chia rẽ và gây cô lập nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chính thể cầm quyền tại Việt Nam đã cụ thể hoá lời chỉ bảo của Trung Quốc bằng những hành động trấn áp, bắt bớ những người bày tỏ ý kiến trong vấn đề chủ quyền này bằng những tội danh như “trốn thuế’’ với blogger Điếu Cày, tội “gây rối trật tự công cộng” với những thanh niên, sinh viên tham gia biểu tình phản đối. Tội “tuyên truyền chống phá nhà nước’’ với nhóm 6 người của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vừa bị kết án tù mới đây. Tội “xâm hại lợi ích quốc gia’’ của 3 blogger trẻ vừa qua. Trước đó nữa là bản án dành cho luật sư trẻ Lê Chí Quang, người đã lên tiếng về hiểm hoạ xâm lược của Trung Quốc từ rất lâu với bài “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”. Loại bỏ trang web của nhà văn Đào Hiếu, sa thải blogger, phóng viên Huy Đức……

Phía Trung Quốc đã chơi một ván bài cực kỳ thâm hiểm đẩy những nhà lãnh đạo Việt Nam vào thế khó khăn. Nhượng bộ chủ quyền đất nước hay là phải đối phó với con “ngáo ộp’’ nguy hiểm mà Trung Quốc đã vẽ ra cho lãnh đạo Việt Nam thấy. Con ngáo ộp có tên “diễn biến hoà bình’’ được Trung Quốc chỉ bảo rằng do thế lực phương Tây, đặc biệt là Mỹ đứng đằng sau chỉ đạo.

Điều khôi hài là trong khi nhà cầm quyền Việt Nam đang nỗ lực đối phó với những ý kiến mạnh mẽ khẳng định chủ quyền đất nước của người dân, trước hành vì xâm chiếm của người hữu hảo láng giềng bị gọi là nguy cơ “diễn biến hoà bình do Mỹ giật dây’’ thì Trung Quốc ngồi sẵn ở nhà đợi Mỹ đến đàm phán, mặc cả về những quyền lực phân chia trên thế giới ở một số khu vực.

Trung Quốc đã từng đẩy Việt Nam lên tuyến đầu của phe CNXH thử lửa với đế quốc Mỹ trong những năm 60, 70 của thập kỷ trước. Để rồi họ âm thầm tiếp ngoại trưởng Mỹ bắt đầu một mối quan hệ có lợi cho họ, để Trung Quốc âm thầm phát triển trong khi Việt Nam chỉ được cái danh hão tiền đồn của CNXH đánh bại đế quốc.

Có lẽ Việt Nam lại lần nữa là tiền đồn trong việc chống và phá tan âm mưu “diễn biến hoà bình của đế quốc Mỹ’’. Và khi nhìn lại, người “anh em” Trung Quốc lúc nào giờ đã thực sự thành một đế quốc tham tàn mang đúng bản chất như cái tên “chủ nghĩa đế quốc mang màu sắc đặc sắc Trung Quốc’’.

Giờ đây người Trung Quốc không phải lo lắng trước sự phản ứng của Việt Nam trước sự xâm chiếm của mình. Người Trung Quốc chỉ ung dung dùng kế sách của Tôn Tử là hàng ngày chỉ cho lãnh đạo Việt Nam thấy những nguy cơ của diễn biến hoà bình đang tiềm ẩn bên trong như đất đai của nông dân, tôn giáo, tài nguyên khai thác, những người bất đồng chính kiến, ý kiến của các nhà trí thức, cựu tướng lĩnh quân đội, sinh viên, thanh niên… để những nhà lãnh đạo Việt Nam có mối bận tâm khác lớn hơn là chủ quyền lãnh hải.

Bởi thế, với lực lượng nhân lực và tài lực hùng hậu, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tuyên truyền thành công khiến cho nhiều người dân ngộ nhận những việc làm của một số người Việt Nam yêu nước chân chính là “diễn biến hoà bình’’ là chủ ý của các thế lực thù địch. Và vẫn bị phủ dụ nhẹ nhàng hành động xâm lược của Trung Quốc chỉ là “vi phạm chủ quyền’’ ở mức độ nhỏ không ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước “anh em”.

Những toan tính quy chụp cho những người dân yêu nước, chỉ vì họ mạnh mẽ đòi hỏi việc xác nhận chủ quyền đất nước của nhà cầm quyền Việt Nam là cực kỳ dối trá và trắng trợn, được xây dựng một cách bài bản có hệ thống. Được dựng lên bởi một bộ máy và những lãnh đạo có nghề được đào tạo và rèn luyện kỹ. Khai thác nhiều yếu tố tâm lý của đám đông quần chúng nhân dân từ lâu đã bị chi phối và lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông nhà nước.

Đặc biệt những tuyên truyền viên của ban tuyên huấn đi tận cùng các ngõ ngách, chị bộ cơ sở địa phương để thuyết giảng những nội dung được hoạch định kỹ càng với chiêu bài “nói chuyện với cơ sở’’. Cách nói chuyện nửa bí mật, nửa công khai như là chia sẻ với cán bộ cấp cơ sở đạt ít nhiều hiệu quả. Người ta dễ dàng thấy những cán bộ hưu trí đi họp chi bộ về, nét mặt quan trọng, khi hỏi đến đầy vẻ hiểu biết nói về quan hệ Việt- Trung, lãnh thổ bằng những luận điệu như “việc chia đất với Trung Quốc rất phức tạp, vì đó là nước lớn, mình phải khéo léo để giành được cái mình muốn. Xu thế bây giờ là đối thoại chứ không đối đầu. Những hành động nóng vội, kêu gào, đòi hỏi là do bọn xấu muốn lợi dụng để khích động bạo loạn, hoặc là do một số người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin dẫn đến như vậy…’’

Rõ ràng một chiến dịch nhằm bôi nhọ và xuyên tạc những tấm lòng yêu nước đang được phát động một cách tinh vi, sâu rộng trong nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng chung quy vẫn là mục đích dập tắt những ý kiến khác chiều, để tập trung tư tưởng của nhân dân một cách tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thâu tóm được ý chí và tư tưởng con người là yếu tố hàng đầu để bảo đảm sự tồn vong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, tính quan trọng sống còn của yếu tố này đã được chính thể Việt Nam nỗ lực hết mình dùng mọi thủ đoạn từ bạo lực đến tuyên truyền.

Tinh thần yêu nước là một tinh thần cao thượng, không có cái “đuôi’’ do sự quy chụp, gán ghép nào có thể làm sai lệch. Những mưu toan vì lợi ích cục bộ, lợi ích phe nhóm để vu khống, áp đặt trước sau cũng bị phơi bày bộ mặt giả dối trước lịch sử và dân tộc.

Cho dẫu bị những khó khăn, những cáo buộc vu khống, cho dẫu những người dân yêu nước chân chính đã phải sa vào nhà tù do chính thể cầm quyền giăng bẫy như Nguyễn Hoàng Hải tức blogger Điếu Cày… Nhưng với tinh thần yêu nước bất diệt tồn tại hàng nghìn năm, dân tộc Việt Nam không thể nào để cho những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dập tắt nhuệ khí hào hùng của ông cha để lại, nhuệ khí của Cáo Bình Ngô, nhuệ khí của Đông A, Bạch Đằng, Vạn Kiếp….

Đòi hỏi chủ quyền đất nước là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi con dân Việt Nam. Tư tưởng ấy là bất diệt, không kẻ nào dù tinh vi, thâm độc và quyền lực đến đâu có thể xuyên tạc sang ý nghĩa khác được. Sự lừa dối như cái kim trong bao, không sớm thì chiều ắt phải lòi ra. Bằng chứng cho thấy càng ngày càng nhiều những tiếng nói đã cất lên để khẳng định chủ quyền đất nước.

Điều ấy nói lên rằng: Không thể nào xuyên tạc tinh thần yêu nước thành những cụm từ xảo trá như “diễn biến hoà bình” hoặc “âm mưu bạo loạn”...

Việc nhà cầm quyền Việt Nam càng hăng say đàn áp những tấm lòng yêu nước, càng quy chụp và trấn áp những tiếng nói yêu nước thương nòi càng chứng minh rõ hơn điều mà lâu nay người dân đã ngờ ngợ: “Chính quyền Việt Nam coi nhẹ sự mất nước, chỉ sợ lo mất Đảng”. Vì Đảng mới đưa lại lợi ích cho những cá nhân chóp bu này bất chấp vận mệnh của dân tộc, của Tổ Quốc.

Mọi âm mưu đang nỗ lực để lừa bịp quần chúng nhân dân, lừa bịp cả dân tộc đều sẽ thất bại bởi chúng xuất phát từ động cơ quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm. Những động cơ đê hèn như vậy sớm muộn cũng bị đè bẹp bởi chính nghĩa dân tộc, đất nước. Lịch sử đã chứng minh và ngày nay sẽ tiếp tục minh chứng cho quy luật muôn đời này.

Ngày 18/11/2009
Thương Phong

Nguồn: Nữ Vương Công Lý

2009/11/18

Hội nghị Người Việt, một trò lường gạt trơ trẽn!


Cách đây đúng 20 năm, ngày 09-11-1989, Bức tường Berlin ở Đông Đức bị nhân dân phá sập. Biến cố này đã phơi bày tất cả bộ mặt của chế độ cộng sản tại Đông Đức nói riêng và tại các nước Cộng sản toàn cầu nói chung. Đó là một trò lường gạt thô bỉ và vĩ đại, che giấu một bản chất gian dối và bạo tàn, che đậy một xã hội đầy huyết lệ và tội ác, đúng như câu định nghĩa của người Pháp: “Communisme: sang, fer, misère” (Chủ nghĩa CS là sắt, máu, khốn cùng) và như lời phê phán của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II (người đã hạ đo ván CS): “Communisme: Mensonge, rien que du mensonge!” (Cộng sản chỉ thuần là dối trá, lường gạt). Cuộc kỷ niệm hoành tráng tại thành phố Berlin hôm 09-11-2009 mới rồi, với sự tham dự của nhiều chính khách lỗi lạc từ thế giới dân chủ và khoảng 100.000 người, đã một lần nữa phơi bày dung nhan ghê tởm của chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản.

Thế nhưng, bên trời châu Á, CSVN vẫn tiếp tục mù quáng và trâng tráo chơi trò lường gạt, đặc biệt đối với đồng bào hải ngoại. Mới đây thôi, từ 18-07 đến 05-08-2009, một sinh hoạt gọi là “Trại hè Việt Nam 2009 dành cho thanh thiếu niên kiều bào với chủ đề “Ngọn đuốc dẫn đường” đã diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi trên 11 tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam”. Điểm nhấn của Trại hè lần này xoay quanh nội dung gọi là “theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng Dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”; đang lúc thật ra đương sự chỉ là một tên gian hùng, tròng ách độc tài lên cả đất nước, đẩy Tổ quốc vào thảm họa đủ mọi mặt, và không hề được UNESCO xưng tụng là danh nhân văn hóa thế giới.

Vài hôm nữa đây, từ 21 đến 23-11-2009, tại Hà Nội sẽ diễn ra cái gọi là “Hội nghị người VN ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất”, do bộ Ngoại giao CS triệu tập, với chủ đề "Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước", có sự tham dự của khoảng 1.500 thành viên gồm hàng lãnh đạo cấp cao của đảng, của bộ máy cai trị CS ở trung ương lẫn địa phương, cùng khoảng 850-900 “đại biểu kiều bào” từ 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (theo thông tin mới nhất). Hội nghị sẽ thảo luận 4 chuyên đề: “Xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước”, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài”, “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, và “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Điểm dối trá lường gạt thứ nhất, đó là danh xưng tiếm đoạt: “đại biểu kiều bào”. Có ai bầu cho những người Việt hải ngoại về nước lần này đâu mà gọi họ là “Ðại biểu”! Ðiều tồi tệ hơn nữa là trong số 850 kẻ mang hiệu danh cao quý này, có đến một nửa là cán bộ nhà nước - tức những nhân viên làm việc cho các tòa đại sứ Hà Nội khắp năm châu - nên số “Việt kiều” thực sự chỉ vào khoảng vài trăm mạng, và hẳn là những kẻ thân với Cộng sản. Cách sắp xếp thành viên tham dự như thế cho thấy nhà cầm quyền VN muốn bảo đảm là sẽ không có sự kiện nào (từ phát biểu, hành động đến quyết định) sẽ diễn ra ngoài ý muốn của họ.

Điểm dối trá lường gạt thứ hai, đó là nội dung 4 chuyên đề thảo luận. Bốn chuyên đề này thật ra đã được trình bày trong Nghị quyết 36 của trung ương đảng CS (ra ngày 26-03-2004). Qua hơn 5 năm thực hiện, bốn điều này đã chẳng đạt được thành quả nào, vì hầu hết đồng bào hải ngoại đều biết tỏng Nghị quyết ấy chỉ là một công cụ nhằm khai thác, khống chế, chia rẽ và lũng đoạn cộng đồng của họ (y như đàn anh Trung cộng đối với Hoa kiều trên thế giới). Thành quả duy nhất của nó là lôi kéo được một số thành phần cần sự yểm trợ về tài chánh của CS để làm ăn ngoài nước hoặc trong nước.

Điểm qua từng mục, trước hết người ta thấy việc “xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước” là một chuyện bằng thừa. Dù có một số bất đồng về phương pháp và đường lối, đại đa số đồng bào hải ngoại đều đoàn kết trong mục tiêu chống chế độ độc tài độc đảng tại quê nhà, đều thành đạt rực rỡ (nhờ không có CS) với hơn 300 ngàn chuyên gia đủ loại, trong đó có nhiều khuôn mặt làm vẻ vang dân Việt như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và dân biểu Cao Quang Ánh tại Hoa Kỳ, bộ trưởng y tế Philipp Rösler tại Đức, giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Pháp, tân giám mục Nguyễn Mạnh Hiếu tại Canada… Họ đều hướng về đất nước chứ không hướng về đảng CS, vì thế chẳng mấy ai hồi hương để phục vụ dưới cái ách của chế độ. “Ðại đoàn kết dân tộc” chỉ là một chiêu bài lường gạt quá cũ rích, vì cả một lịch sử dài cho thấy đó chỉ có nghĩa là ở dưới trướng của đảng, nằm trong tay nhà nước, để giúp cho chế độ tồn tại, với mối nguy thường trực “bị vắt chanh bỏ vỏ”!

Thứ đến, “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài” là việc mà đồng bào hải ngoại đã làm từ lâu và làm rất tốt. Những lễ hội truyền thống, những dạng hình nghệ thuật (cổ và kim), những tác phẩm văn hóa (thơ văn, ca nhạc, sử địa…), các lớp học Việt ngữ đã được các cộng đồng người Việt khắp nơi trân trọng giữ gìn và phát triển. Đang khi đó thì tại VN, kể từ 1954 đến nay, biết bao giá trị văn hóa đã bị thủ tiêu (điển hình qua cuộc Cải cách nông nghiệp, cuộc Tấn công Mậu Thân), bao công trình văn hóa bị phá bỏ (hàng vạn ngôi chùa với di sản vô giá từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mới nhất là vụ xóa sổ di tích Hoàng thành Thăng Long và đền thờ Lý Chiêu Hoàng), bao ý nghĩa văn hóa bị bóp méo (thờ tên đồ tể Hồ Chí Minh bên cạnh các giáo tổ và anh hùng dân tộc, tạo ra quái thai “Văn hóa đảng”, công nhận “làng văn hóa” là làng không có phản đối những bất công của cường quyền…). Đặc biệt cái nôi của văn hóa cho mỗi người là trường học thì bị băng hoại vì giả dối và bạo hành, vì tham nhũng và bóc lột, vì đầu độc và ngu dân.

Việc kêu gọi “chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” cũng là một trò lường gạt quá cũ. Ai mà không nhớ tới kinh nghiệm đau thương của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Tiến sĩ Trần Ðức Thảo, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện… Sau khi lấy 2 bằng tiến sĩ lúc mới 23 tuổi tại Pháp, luật sư Trường trở về nước hành nghề, sau đó theo “cách mạng”. Năm 1956, vì viết bài phê bình những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, ông đã bị tước hết mọi công việc, quyền lợi, phải sống như kẻ bị khai trừ, lây lất nghèo đói cho tới chết. Tiến sĩ triết học Trần Ðức Thảo, khi rời nước Pháp năm 1951 để trở về Bắc Việt tham gia kháng chiến, thì đã thấy ngay cái học của mình bị Hồ Chí Minh khinh khi bằng cách chỉ giao cho dịch các truyền đơn sang Pháp ngữ. Năm 1956, vì có viết một bài về vấn đề phát triển tự do dân chủ cho nhóm Nhân văn Giai phẩm nên ông bị kết tội là phần tử phản động. Bị tước mọi phương tiện sống, Tiến sĩ Thảo trở thành một kẻ ăn mày lang thang. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, sau một đời cung cúc phục vụ CS kể từ khi về nước năm 1963, cuối cùng thì đã bị khai trừ vì tội viết “Thất trảm sớ” gởi Quốc hội CS….

Còn các “Doanh nhân kiều bào [muốn] góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” thì hãy nhớ tới gương ông Nguyễn Trung Trực, Việt kiều Úc về đầu tư ngành ngân hàng, bảo hiểm, bị sạch túi; ông Trịnh Vĩnh Bình, Việt kiều Hòa Lan về đầu tư ngành dầu hỏa không những bị tước lột mà còn bị tù đày; ông Nguyễn Gia Thiều, Việt kiều Pháp (chồng hoa hậu Hà Kiều Anh) về đầu tư ngành viễn thông cũng bị tán gia bại sản và tù tội; ông Nguyễn An Trung, Việt kiều Nhật, về VN làm giám đốc Công ty Sài Gòn Ôtô rồi lâm vòng lao lý; ông Nguyễn Đình Hoan, Việt kiều Mỹ, về đầu tư giáo dục, chẳng những mất hết của cải mà còn bị tù, bị vu khống, bị cấm rời VN, bị Công an làm tình làm tội… Họ cũng chớ quên vụ cò mồi Trần Trường, Việt gian tay sai cho Việt Cộng ở Mỹ, về đầu tư đào ao nuôi cá, rồi cũng bị khốn đốn và vặt trụi; vụ ông Đỗ Thành Công, Việt kiều Mỹ, về thăm gia đình ở Phan Thiết, bị Công an bắt giam, chụp mũ là khủng bố, bị kết tội bịa đặt là âm mưu đánh phá Toà đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội….

Điểm dối trá lường gạt thứ ba, đó là Cộng sản còn gọi Hội nghị này là “Hội nghị về nguồn”, cụ thể hóa “chính sách trở về cội nguồn của người VN ở nước ngoài”, trên “tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc cùng hướng về nguồn cội”. Nguồn cội của con Hồng cháu Lạc đúng là Đất Mẹ VN, nhưng tuyệt nhiên khó có thể hướng về khi Đất Mẹ bị cai trị bởi một chế độ sai trái về phương diện chính trị và đạo đức. Không thể “về nguồn” theo nghĩa chấp nhận làm nạn nhân của một tập đoàn chuyên phản bội, chấp nhận làm tay sai cho giai cấp tư bản đỏ, chấp nhận làm tôi trung phục vụ đảng CS, nếu không sẽ đi vào con đường máu và nước mắt như tu đoàn Bát Nhã hiện thời. Không thể “về nguồn” khi CSVN ngày càng hiện nguyên hình là một tổ chức hoạt động không giấy phép, dùng bạo lực để cưỡng chiếm tài sản của toàn dân, phạm 4 tội ác cơ bản: tội thành lập một chế độ cai trị bất chính; tội tổ chức việc tham ô ngày càng tinh vi, lộ liễu và trắng trợn; tội đem giang sơn Tổ quốc bán cho lân bang, vừa để trả nợ chiến phí, vừa để được bảo vệ ngai vàng; tội phát triển các tệ đoan xã hội nhằm làm cho quần chúng, nhất là giới trẻ, ham mê trác táng, để nhân dân phần nào giảm đi cường độ chống bạo quyền (theo Đỗ Thái Nhiên, Về nguồn hay về hùa?).

Nếu tập đoàn lãnh đạo Cộng sản thực tâm đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi đảng phái thì trước khi tổ chức Hội nghị Người Việt, họ phải làm những việc sau đây: 1- phóng thích lập tức và vô điều kiện các tù nhân chính trị, 2- chấp nhận một xã hội đa đảng, đa nguyên, 3- cho phép báo chí tư nhân được xuất bản, 4- mời các nhân vật bất đồng chính kiến trong lẫn ngoài nước tham dự Hội nghị. Bằng không thì dù có tổ chức hàng chục Hội nghị như thế, CS cũng chẳng lừa gạt được ai, ngoại trừ những kẻ muốn về VN để chung tay bóc lột đồng bào.

BAN BIÊN TẬP

Nguồn: Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 87, ngày 15-11-2009