Đi Tù Vì Yêu Nước from Viet Tan Media on Vimeo.
2009/10/22
2009/10/14
Nhà Giáo Yêu Nước Vũ Hùng Tuyệt Thực Phản Đối Bản Án

Radio Chân Trời Mới
Tin nhanh số 12
Lúc 2:00 sáng ngày 14/10/2009 giờ Việt Nam
Vào chiều ngày 13/10/2009, thân nhân của nhà giáo Vũ Hùng gồm cụ thân sinh của ông, vợ ông là bà Lý Thị Tuyết Mai, và con gái của ông đã đến trại giam để thăm nuôi. Tuy nhiên, quản trại từ chối, không cho gặp với lý do nhà giáo Vũ Hùng đang “vi phạm nội qui trại”.
Khi bị gặng hỏi nhiều lần, cán bộ trại mới cho biết ông Vũ Hùng đã tuyệt thực gần 7 ngày qua để phản đối bản án chế độ CSVN áp đặt lên ông. Vào ngày 7/10/2009, sau vỏn vẹn 3 giờ “xét xử”, tòa án Hà Nội đã kết án ông 3 năm tù giam và 3 năm quản chế. Trọng tội của ông là đã cùng với 8 nhà yêu nước khác treo biểu ngữ tuyên nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam và kêu gọi cải thiện nhiều mặt tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay. Tại phiên tòa ông khảng khái duy trì quan điểm hết lòng vì nước vì dân của mình. Ông phủ nhận các cáo buộc vô lý của chế độ và tuyên bố “Tôi chỉ muốn đóng góp tiếng nói nhỏ bé của tôi để xã hội tốt đẹp hơn.”
Kể từ ngày bị bắt vào năm ngoái, 18/9/2008, đến nay gia đình vẫn không được gặp mặt nhà giáo Vũ Hùng. Tại phiên tòa ngày 7/10/2009, sau khi bị tuyên án, ông đã cố gắng tiến lại để an ủi vợ vài lời nhưng công an lập tức ngăn bà Mai lại và kéo ông ra khỏi tòa.
Vào ngày 9/10/2009, tức chỉ 2 ngày sau khi có bản án phi lý và bất công này, tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) đã phát động lời kêu gọi hành động khẩn cấp đến các thành viên trên khắp thế giới để tranh đấu cho nhà giáo Vũ Hùng.
RadioCTM
2009/09/23

Ngày 23 tháng 9 năm 2009
Nhà cầm quyền CSVN vừa quyết định hoãn cả 3 phiên tòa dự trù xét xử 8 nhà dân chủ tại Hải Phòng và Hà Nội vào ngày 24 và 25/9/2009. Đây là hành động nhằm giảm bớt sự mất mặt và chất vấn của thế giới đối với ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCNVN, khi ông này đến đọc diễn văn tại Liên Hiệp Quốc ngày 25/9/2009.
Chúng tôi cũng vừa nhận được một bức thư chung của thân nhân 8 nhà dân chủ gởi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và nguyên thủ các quốc gia sắp nhóm họp tại New York, Hoa Kỳ. Nguyên văn bức thư như sau:
Việt Nam, ngày 24 tháng 9 năm 2009
Kính gửi: Ông Ban Ki Moon - Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc,
Kính gửi: Các vị nguyên thủ quốc gia tại cuộc họp khoáng đại Liên Hiệp Quốc ở New York tháng 9/2009.
Về việc: Kêu gọi các thành viên Liên Hiệp Quốc quan tâm đến tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam và can thiệp cho các nhà dân chủ đang bị tù ngục.
Chúng tôi ký tên dưới đây là thân nhân của các nhà bất đồng chính kiến đang bị lực lượng an ninh Việt Nam bắt giữ kể từ ngày 10 tháng 9 năm 2008 đến nay, bao gồm:
* Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi,
* Sinh viên Ngô Quỳnh, 25 tuổi,
* Thầy giáo Vũ Hùng, 43 tuổi,
* Kỹ sư Phạm Văn Trội, 40 tuổi,
* Ông Nguyễn Mạnh Sơn, 66 tuổi,
* Ông Nguyễn Văn Tính, 67 tuổi,
* Ông Nguyễn Văn Túc, 45 tuổi,
* Ông Nguyễn Kim Nhàn, 60 tuổi.
Tất cả thân nhân chúng tôi đều bị kết tội "tuyên truyền chống lại chế độ" theo điều 88 Luật Hình Sự, chỉ vì họ lên tiếng kêu gọi bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo cho Việt Nam và đòi tự do, dân chủ, nhân quyền.
Với những hành động kể trên, thân nhân chúng tôi không hề có tội. Họ là những người Việt Nam yêu nước, đang đấu tranh ôn hoà cho lý tưởng Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho Việt Nam. Đây là những quyền được ghi rõ trong hiến pháp Việt Nam. Hơn thế nữa, đây còn là những giá trị có tính toàn cầu như đã được khẳng định trong các giao ước về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt, điều 19 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khẳng định, công dân bất kể ở quốc gia nào, đều có "quyền tìm kiếm và thu nhận thông tin, quyền bày tỏ quan điểm ở bất cứ đâu và không phụ thuộc vào ranh giới, bất kể hình thức phát biểu, viết, in ấn hay phổ biến bằng những phương tiện thông tin đại chúng"; và điều 9 của văn bản này cũng xác định: "không ai là nạn nhân của chính sách giam cầm, truy tố hay truy bức một cách tuỳ tiện".
Nhân phiên họp khoáng đại Liên Hiệp Quốc vào ngày 24/9/2009 có sự tham dự của ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và các vị nguyên thủ quốc gia thành viên can thiệp trực tiếp với ông Nguyễn Minh Triết, yêu cầu chính phủ Việt Nam tuân thủ các ký kết về nhân quyền với Liên Hiệp Quốc; chấm dứt đàn áp các nhà bất đồng chính kiến; tôn trọng nhân quyền và trả tự do cho thân nhân của chúng tôi.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Việt Nam, ngày 24 tháng 9 năm 2009
Đồng Ký Tên
1- Nguyễn Thị Nga, vợ ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng, Việt Nam
2- Ngô Quyền, anh của sinh viên Ngô Quỳnh, Bắc Giang, Việt Nam
3- Lý Thị Tuyết Mai, vợ ông Vũ Hùng, Hà Tây, Việt Nam
4- Nguyễn Thị Huyền Trang, vợ ông Phạm Văn Trội, Hà Tây, Việt Nam
5- Nguyễn Thị Thảo, vợ ông Nguyễn Mạnh Sơn, Hải Phòng, Việt Nam
6- Dương Thị Hài, vợ ông Nguyễn Văn Tính, Hải Phòng, Việt Nam
7- Bùi Thị Rè, vợ ông Nguyễn Văn Túc, Thái Bình, Việt Nam
8- Ngô Thị Lộc, vợ ông Nguyễn Kim Nhàn, Bắc Giang, Việt Nam
Ngày 23 tháng 9 năm 2009
Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-0845 - www.viettan.org

Ngày 22 tháng 9 năm 2009
Theo tin tức nhận được từ thân nhân các nhà dân chủ thì nhà cầm quyền CSVN đã hoãn vụ xử các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Ngô Quỳnh, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhàn tại Hải Phòng, nhưng chưa thông báo ngày xử mới.
Lý do cho việc hoãn phiên xử tại Hải Phòng là vì ông Tính, 67 tuổi, đang bị bệnh phổi nặng trong tù, không thể đứng trước tòa. Tuy vậy, trong suốt 1 năm qua, tin tức về bệnh tình của ông Tính không hề được thông báo cho gia đình ông.
Ngoài ra, công an và hệ thống tòa án CSVN tiếp tục vi phạm nhiều điều khoản trong chính bộ luật Tố Tụng của chế độ. Gia đình các nhà dân chủ cho đến nay vẫn không nhận được giấy phép tham dự phiên tòa, không được biết trước một cách chính thức ngày giờ và địa điểm của phiên xử như luật lệ qui định. Tất cả những thủ thuật bất kể luật pháp này của công an và tòa án đều nhằm mục tiêu tránh né sự phản đối đông đảo trước tòa và tránh né các ống kính của phóng viên ngoại quốc.
Trong khi đó, phiên tòa xử kỹ sư Phạm Văn Trội vào ngày 24/9 và nhà giáo Vũ Hùng vào ngày 25/9 tại Hà Nội vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, một số nguồn tin tại Hà Nội cho biết rất có thể 2 phiên xử tại Hà Nội cũng sẽ phải hoãn lại để tránh bớt sự mất mặt và áp suất quốc tế cho ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCNVN khi ông đến đọc diễn văn tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc vào ngày 25/9/2009.
Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đang gấp rút tổ chức một cuộc biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc vào ngày giờ nói trên để cực lực phản đối thái độ Hèn Với Giặc - Ác Với Dân của Nhà Nước CSVN do ông Triết cầm đầu.
Ngày 22 tháng 9 năm 2009
Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-0845 - www.viettan.org
2009/08/15
Từ 31/CP đến đôi còng kép 88

Người Việt Nam có câu "cọp chết để da, người ta chết để tiếng", ngụ ý lúc con cọp còn sống, tuy dữ tợn và mạnh mẽ, nhưng khi chết đi thì cũng chẳng còn gì, ngoài bộ da màu sắc rực rỡ dùng để trang trí. Thêm vào đó, với những “ông cọp” đã từng gây tai họa cho xóm làng, thì bộ da cọp cũng khiến người ta gợi nhớ đến nỗi hoảng hốt, kinh hoàng, những khi nó về rình rập trong làng vồ người hay gia súc tha đi.... Còn câu: "Người ta chết để tiếng", thì “tiếng” ở đây là cả tiếng tốt và tiếng xấu. Xã hội nào cũng vậy, bên cạnh những người tốt, tiếng tăm đươc lưu danh muôn thưở, thì cũng có những người sau khi chết vẫn bị nguyền rủa muôn đời.
Trong xã hội Việt Nam hôm nay, khi nghe câu "người ta chết để tiếng", người ta nhớ đến những "ông cọp" đã liên tục gây kinh hoàng trên đất nước suốt mấy thập niên qua, với “tiếng tăm” của họ từ các thời Cải Cách Ruộng Đất, đến các chiến dịch truy diệt văn nghệ sĩ, tư sản, ngụy quân ngụy quyền, đến các chiến dịch quản chế hành chánh, truy lùng những người phản đối Trung Quốc hiện nay. Mỗi giai đoạn kinh hoàng của dân tộc trong 75 năm qua đều có một nhân vật điển hình – hay một "ông cọp" - mà chỉ cần nhắc đến tên là người ta hình dung ra được cả cảnh tượng, âm thanh, lẫn màu sắc và mùi của giai đoạn đó. Nhắc tới Trường Chinh là nhớ ngay đến các buổi đấu tố dưới ánh đuốc leo lét, vang động tiếng cán bộ gào thét xúi giục đám đông giết người. Nhắc tới Tố Hữu là người ta nhớ ngay đến những câu thơ vong bản như “Yêu biết mấy khi con vừa biết nói, tiếng đầu lòng con gọi Stalin”; cũng như hình dung ra ngay bầu không khí cực kỳ căng thẳng, nặng nề của văn nghệ sĩ canh chừng nhau, tố giác nhau, và tàn lụi trong lao tù khổ sai, v.v...
Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có một "ông cọp" bị mang tiếng oan. Chẳng hạn như tên tuổi cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng bị dính chặt với bức công hàm công nhận "lưỡi bò" hải phận Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa. Bức công hàm ngày 14/9/1958, mang chữ ký của ông Đồng và ngày nay được gọi tắt là công hàm Phạm Văn Đồng, không chỉ coi toàn vùng biển trong "bản đồ 9 vạch" thuộc về Trung Quốc mà còn thề hứa sẽ "triệt để tôn trọng" hải phận đó. Tuy nhiên, dù ký bản công hàm với tư cách thủ tướng nhà nước CSVN, nhưng đây chắc chắn không phải là quyết định riêng của ông Phạm Văn Đồng mà là ý định của Bộ Chính trị đảng CSVN với sự quyết định tối hậu của lãnh tụ tối cao vào lúc đó là ông Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn này, ông Hồ vẫn còn nắm mọi quyền sinh sát trong tay và chưa bị cánh Lê Duẫn và Lê Đức Thọ cô lập như từ đầu thập niên 60 trở đi.
Tuy nhiên, loại oan ức như vậy khá hiếm hoi. Hầu hết các “ông cọp” gây kinh hoàng trong xã hội Việt Nam sau này, đặc biệt những ông đứng đầu các chiến dịch khủng bố của chế độ trong 3 thập niên vừa qua thì chẳng oan chút nào. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất phải kể đến Nghị Định 31/CP ngày 14-4-1997, mang chữ ký của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bất kể lý lịch sự nghiệp của ông Kiệt thế nào đi nữa thì các nhà phân tích Việt Nam lẫn quốc tế ngày nay, và có lẽ cả các sử gia độc lập trong tương lai, đều khó có thể nhắc đến tên ông mà không đề cập đến Nghị Định 31/CP và khối nạn nhân của nó.
Dù ở phần cuối đời, ông Võ Văn Kiệt có lên tiếng kêu gọi "tha thứ hòa giải vì tương lai" cách mấy đi nữa, vẫn ít ai dám tin ông hoàn toàn. Người ta khó để mà phân định được “ông Kiệt nào” đang có những lời lẽ kêu gọi đầy tính nhân bản và tinh thần dân tộc đó; một ông Kiệt đã nghỉ hưu, hồi tâm và nhận ra những sai trái, tàn ác của chế độ để nói tiếng lương tâm chân thật của mình, hay vẫn chỉ là ông Kiệt của nghị định 31/CP đang đóng kịch đạo đức. Người ta khó phân định chính xác được hai con người trong ông Kiệt, vì ông đã từng có khả năng bịt miệng lương tâm của chính mình để ký bản Nghị định 31/CP, hợp thức hóa việc giam cầm vô số nạn nhân, kể cả người bạn nối khố của ông là Nguyễn Hộ, dưới cái tên hiền lành "quản chế hành chánh". Nói cách khác, vết bùn (nếu không nói là vết máu) 31/CP đã vĩnh viễn dính liền với tên tuổi ông Võ Văn Kiệt.
Ngày nay các lãnh tụ CSVN khôn ngoan hơn. Ít ai còn dại dột đứng tên ban hành cả một văn bản mang tính "ác ôn" cỡ 31/CP “Quản chế hành chánh” trước mắt thế giới. Các điều luật cho mục tiêu hợp pháp hóa các hành vi trấn áp được đẩy sang một tập thể bình phong lớn hơn, gọi là Quốc Hội, và được vùi vào giữa vài trăm điều luật vô tư khác, gọi là Bộ Luật Hình Sự. Tuy nhiên, không phải vì thế mà những lệnh bắt người trong 3 năm qua không để lại những dấu ấn rõ rệt cho người đời đối với nhân vật ký những lệnh bắt đó. Trước mắt công luận, ông Nguyễn Tấn Dũng, tác giả của những lệnh bắt bớ vừa kể, đang càng lúc càng gắn chặt tên tuổi của mình với điều luật hình sự 88 (LHS 88); mà với hình dạng của 2 số 8, luật nay còn được gọi là bộ còng đôi cho cả 2 tay và 2 chân nạn nhân. Và khi các nguồn tin về món tiền hối lộ khổng lồ, mà hệ thống làm ăn của gia đình ông nhận từ Bắc Kinh ngày càng lan rộng, người ta càng nhận diện rõ hơn những động cơ phía sau khiến ông phải gấp rút bịt miệng cả những người biết chuyện và những người dám đưa tin, bằng vũ khí có tên LHS 88.
Không chỉ trong mắt người Việt, mà trong cả hồ sơ của các chính phủ tự do và các tổ chức nhân quyền quốc tế, hình ảnh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đang ngày càng xấu đi so với thời điểm ông mới nhậm chức. Một trong những lý do chính là vì LHS 88 đang hiện nguyên hình là một vũ khí của chế độ, thay thế cho Nghị Định 31/CP, một văn bản mà thế giới quá nhờm tởm, lên án, khiến Hà Nội buộc phải hủy bỏ năm 2006.
Như vậy, LHS 88 giống và khác nghị định 31/CP ở chỗ nào?
Trước hết, một cách tóm tắt, Nghị Định 31/CP, dài 4 chương 28 điều, cho phép các quan chức cầm quyền từ cấp phường xã lập hồ sơ và cấp tỉnh có quyền giam giữ tại gia hay đưa đi vùng khác bất cứ ai mà nhà nước cho là có hại cho chế độ, mà không cần đi qua sự xét xử nào. Mỗi quyết định "quản chế hành chánh" có thể kéo dài tới 2 năm và có thể gia hạn vô số lần.
Trong khi đó, LHS 88 qui định về Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên văn như sau:
- Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
- Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
- Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
- Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Về góc độ tùy tiện
Một lý do rất quái dị được viện dẫn để biện minh cho 31/CP là vì "các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an ninh quốc gia, đuợc quy định tại chương 1 phần các tội phạm của Bộ Luật Hình Sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự". Khó có ai giải thích được những hành động như thế nào là hành động đã bị liệt vào loại xâm phạm đến an ninh quốc gia, mà lại chưa đến mức nghiêm trọng đủ để đưa ra tòa. Và lại càng khó hiểu hơn, khi người vi phạm chưa đủ nghiêm trọng, lại bị giam vô hạn định theo 31/CP, thay vì đưa ra tòa để bị phạt có hạn định theo luật hình sự?! Điều này chẳng khác nào cách giải thích lấp liếm nhập nhằng “đi cải tạo là đi học tập chứ không phải là bị tù”, dù rằng trên thực tế thì cải tạo và tù có án cùng ở chung các phòng giam, cùng phải chịu đựng các chế độ của nhà tù; điều khác biệt là tù có án thì có thời hạn, còn “đi cải tạo” thì tha hồ gia hạn. Nhưng dù gì đi nữa thì đó vẫn là lý do để giao việc phát hiện, lập hồ sơ và quản chế cho các quan chức địa phương từ cấp thấp nhất là phường xã, và thế là cánh cửa khổng lồ mở ra cho cơn lũ của tùy tiện và lạm dụng bùng túa ra. Những đụng chạm cá nhân, tranh giành quyền lợi vì vậy mà dễ biến thành lý do mở hồ sơ “quản chế hành chánh”. Và những "hồ sơ quản chế" này cũng nhanh chóng trở thành những phong bì nhận tiền “chuộc tội” từ các nạn nhân. Trong suốt 10 năm từ 1997 đến 2006, vô số công dân vô tội đã trở thành nạn nhân của 31/CP. Phải nói là "vô số" vì không ai còn có thể đếm được khi mức lạm dụng đã xuống đến cấp phường xã trên cả nước.
Trong khi đó, LHS 88 tuy vẫn mở ra cho công an cấp phường xã quyền bắt bớ, nhưng phải đi qua hệ thống xét xử. Tuy nhiên, cánh cửa của tùy tiện và lạm dụng vẫn mở rộng từ 2 góc khác. Đó là hành vi thế nào thì đủ qui kết là “chống lại”, và hành vi đó đụng đến cấp quan chức hay ban ngành nào thì đủ để xem đó là “Nhà Nước CHXHCNVN”.
- Khi giáo dân cùng nhau phản đối một quyết định cướp đất bất công của một quan chức chế độ thì họ đang thực thi quyền hiến định, hay đang “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN”?
- Khi dân chúng truyền cho nhau những lời phê phán làng báo “công cụ” quá nhút nhát trong lề phải, không dám phanh phui nạn tham nhũng ở thượng tầng lãnh đạo Đảng, thì đó có phải là “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN” không?
- Tất cả mọi bài nhận xét, phân tích các bộ phận Nhà Nước không hoàn thành nhiệm vụ hoặc làm sai nhiệm vụ, như hải quân không được cho phép ra khơi bảo vệ ngư dân, công an đã không dẹp lại còn sử dụng băng đảng xã hội đen, thủ tướng lại đi ký công hàm xác nhận đảo Việt là đất Tàu, v.v… có bị xem là “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN” không?
- Khi người dân lên tiếng chỉ ra việc thủ tướng không tuân thủ chính luật lệ của chế độ và tạo tác hại lên hàng triệu người tại Tây Nguyên, chỉ ra việc ký hiệp ước biên giới với một nước khác mà lại không cho “những người chủ” của đất nước biết bản đồ ký kết, là phạm pháp, v.v… thì có phải là “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN” không?
- Ngay cả khi dân chúng lập lại các tuyên bố của lãnh đạo Đảng phê bình các ban ngành Nhà Nước phí phạm công quỹ, xuống cấp đạo đức, tham nhũng lan tràn, … thì họ có đang “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN” không?
Chỉ cần duyệt lại cách hành sử của lãnh đạo Đảng và Nhà Nước trong 3 năm qua và các nạn nhân đã và sắp nằm tù, thì câu trả lời cho tất cả các câu hỏi nêu trên đều là “có tội”.
Do đó, tuy khác nhau chút ít về cách thức thực hiện, nhưng về bản chất và mục tiêu thì 31/CP và LHS 88 đều như nhau và đều cố tình mở ra các cửa ngõ cho sự tùy tiện và lạm dụng của một Nhà Nước Phi Pháp Quyền.
Về hiệu năng trấn áp
Đặc điểm của 31/CP là bắt và giữ ngay tại địa phương, nên thường ít ai hay biết số phận của các nạn nhân, và số “tư thất biến thành ngục thất” trên cả nước lên đến hàng trăm ngàn, khiến các tổ chức nhân quyền quốc tế khó lòng theo dõi. Đối với các tù nhân được thế giới theo dõi và lên tiếng khiếu nại, thì 31/CP vẫn cung cấp cho nhà cầm quyền lời chối không hề “bỏ tù” nạn nhân. Trường hợp điển hình và nổi tiếng nhất về kiểu chối trâng tráo này là việc “quản chế” đức đệ tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang tại Quảng Ngãi.
Với vũ khí 31/CP, chế độ đã tấn công và bịt miệng hầu hết các tiếng nói công thẳng của thời đó: Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Hộ, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, v.v…
Hiện nay, LHS 88 vẫn cung cấp cho các nhà lãnh đạo chế độ độc tài lời chối trâng tráo: “tại Việt Nam chỉ có tù hình sự chứ không có tù chính trị” khi bị thế giới hạch hỏi, tuy cả người hỏi lẫn kẻ trả lời đều biết sự vô giá trị của tuyên bố đó.
Nhưng dù sao đi nữa với vũ khí này, chế độ lại đang bịt miệng hàng loạt các nhà dân chủ thế hệ mới: Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Trần Quốc Hiền, Phạm Bá Hải, Huỳnh Nguyên Đạo, Lê Nguyên Sang, v.v… và sắp tới đây các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Mạnh Sơn, và chị Phạm Thanh Nghiên.
Do đó, về mặt hiệu năng trấn áp, LHS 88 là vũ khí tương đương với 31/CP và cùng lúc cho chế độ tấm bình phong pháp quyền để ẩn núp.
Về mức khinh tởm của thế giới
Trước hết, kiểu nói dối “không có tù chính trị” không hề che mắt được ai. Nhiều chính phủ và tổ chức nhân quyền quốc tế đã vạch trần những thực tế hiện nay. Nhà Nước đang đẻ ra đủ loại lực lượng "bảo vệ chính trị" trong mọi ban ngành, đoàn thể. Từ công an đến công xưởng, đến ngay cả các trường trung và đại học. Có người so sánh lực lượng này với loại cảnh sát tôn giáo trong mọi ngõ ngách xã hội và guồng máy cai trị của chế độ Taliban tại Afghanistan. Và khi những cán bộ bảo vệ chính trị đó bắt những người họ gọi là vi phạm, thì các nạn nhân không là tù chính trị thì là cái gì??? Nếu tại VN không có tù nhân chính trị thì đội ngũ bảo vệ chính trị dày đặc đó được dựng lên ngày một nhiều để làm gì?
Các nước từng tài trợ cho Nhà Nước CHXHCNVN cải sửa hệ thống luật pháp bao nhiêu năm nay, đặc biệt là 3 nước Bắc Âu, đã bày tỏ sự thất vọng là họ đã bị lừa, phí tiền vô ích. Họ phải đi đến kết luận không thể né tránh, đó là những người lãnh đạo CSVN không hề có thiện chí thực sự muốn có một Nhà Nước pháp quyền tại Việt Nam. Loại Nghị Định 31/CP chỉ đơn thuần được thay thế bởi những lỗ hổng cố ý như điều 79, điều 88, v.v. của Bộ Luật Hình Sự.
Nhưng có lẽ mức khinh tởm của thế giới lên đến cùng cực khi họ đọc các đoạn đạo đức giả và mâu thuẫn của chế độ trong cả 2 văn bản:
- Nghị định 31/CP có điều khoản “Không áp dụng quản chế hành chính đối với người dưới 18 tuổi”, hay câu “Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của ngưòi bị quản chế hành chính”. Thực tế cho thấy con em thơ dại của các nạn nhân quản chế hành chính đều chịu chung số phận với cha mẹ chúng. Và hiếm có nạn nhân nào được phép đi chữa bệnh.
- Và ngay trong bản tuyên bố khai tử Nghị Định 31/CP, Bộ Ngoại Giao CSVN vẫn cố nói bất cần người nghe về “khía cạnh nhân đạo của nghị định 31/CP, là “nó ngăn chận những hành vi dẫn tới tội phạm” và “hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng”. Thế nhưng ở cuối bản tuyên bố lại cho biết, “nay hủy bỏ 31/CP “cho phù hợp với tình hình Việt Nam và chuẩn mực quốc tế”. Như thế nghĩa là Nhà Nước Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới cùng quyết định không còn nhân đạo như trước nữa chăng?
- LHS 88 cũng không kém phần “đạo đức” khi mở đầu Bộ Luật Hình Sự người ta được biết mục tiêu của bộ luật này bao gồm cả các chủ đích “bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao”, cũng như “bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội”. Thế giới khó hiểu tại sao “tính nhân văn” của các lãnh đạo CSVN lại khác thế giới đến vậy. Và lại càng không hiểu bồi dưỡng cho công dân “ý thức làm chủ xã hội” làm gì, để rồi trừng phạt, khi họ bày tỏ ý thức ấy. Các hình phạt được ghi rất rõ ràng, mà LHS 88 là một thí dụ.
Tương lai của LHS 88
Hiển nhiên, những người lãnh đạo Đảng và Nhà Nước CHXHCNVN dư biết sự khinh tởm của thế giới và mức độ lạc hậu của bình phong luật lệ mà họ đang ẩn núp. Cụ thể là trong tuyên bố hủy bỏ Nghị Định 31/CP năm 2006, chính họ biết mình đang đứng dưới chuẩn mực quốc tế.
Tuy nhiên, vào gần cuối năm 2006, 31/CP chỉ được công bố hủy bỏ vì nó là điều kiện để Quốc Hội Mỹ phê chuẩn qui chế Thương Mãi Vĩnh Viễn (PNTR) cho Việt Nam, để tổng thống Mỹ chịu đến dự Hội Nghị APEC tại Hà Nội, và để Việt Nam được vào Tổ Chức Thương Mãi Thế Giới (WTO). Chính vì thế mà tuyên bố hủy bỏ 31/CP không do Bộ Công An hay Văn Phòng Chính Phủ công bố, nhưng lại do Bộ Ngoại Giao Việt Nam tung ra. Và phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ được thông báo về sự việc này trước ngày công bố chính thức 2 tuần.
Nói cách khác, chỉ khi có hứa hẹn “tiền vào”, lãnh đạo Đảng mới đủ hứng thú leo lên chuẩn mực quốc tế. Còn không thì cả dân tộc cứ đứng dưới mức loài người văn minh, không sao cả!
Liệu dân tộc ta có kiên nhẫn chờ đợt “tiền vào” kế tiếp để hy vọng lãnh đạo Đảng sẽ bỏ LHS 88, xí xóa huề với các nạn nhân, và thay vào đó một lỗ hổng với tên khác không? Hay chính chúng ta sẽ lật ngược LHS 88 để tạo tối đa vấn đề cho lãnh đạo Đảng bằng các phương cách Đấu Tranh Bất Bạo Động, để tạo đủ áp suất buộc họ phải rút lại điều luật này. Một vài việc cụ thể như:
- Dùng chính LHS 88 để kiện các quan chức Đảng và Nhà Nước về các phát biểu, hành động “chống lại Nhà Nước CHXHCNVN” của họ. Thí dụ mọi phát biểu chung chung về tham nhũng đều có thể được xem là “xuyên tạc” và “phỉ báng chính quyền nhân dân”, “gây hoang mang trong nhân dân”. Thí dụ quan chức cho phép in cuốn Ma Chiến Hữu cũng bị kiện theo LHS 88 vì đã “làm ra văn hóa phẩm chống Nhà Nước CHXHCNVN”.
- Đòi các đại biểu quốc hội phải định nghĩa từng từ ngữ: “xuyên tạc”, “chiến tranh tâm lý”, “hoang mang”, v.v… và định rõ loại tài liệu nào thuộc loại “có nội dung chống Nhà Nước XHCNVN”. Đây là trách nhiệm làm luật của cơ quan Lập Pháp.
- Khởi động phong trào thảo luận tự phát ngoài luồng để góp ý với Quốc Hội khai triển LHS 88, và cùng lúc để giúp toàn dân thấy rõ sự vô lý, lạc hậu, và gian ý phía sau điều luật này.
Và sau hết, không thể để các quan chức chế độ cứ làm ác rồi lại huề cả làng. Để chấm dứt hẳn tình trạng sản xuất hết thế hệ nạn nhân này đến đời nạn nhân khác, toàn dân Việt cần bắt đầu lập hồ sơ các tội ác và ghi thật rõ từng bàn tay bạo hành, từ kẻ ký lệnh bắt đến kẻ vung roi điện vào các nạn nhân.
Nhìn tiến trình vượt thoát độc tài của các nước cùng cảnh ngộ với chúng ta trong 15 năm qua trên khắp thế giới, và nhìn lại truyền thống của dân tộc Việt cũng như mức mục nát trong lòng chế độ độc tài tại Việt Nam hôm nay, chúng ta càng cần ra sức đẩy nhanh hơn nữa đến ngày chấm dứt các văn bản làm ô nhục quốc gia như 31/CP, LHS 88 và vĩnh viễn không để cho một “ông cọp” nào khác gây kinh hoàng trên đất nước. Các “ông cọp” trước đây chỉ còn trong ký ức dân tộc với sự nguyền rủa muôn đời.
Vũ Thạch
2009/08/06
Đã Đành Là Hèn…

Tháng 6 năm 2004, hiệp định vịnh Bắc Bộ được quốc hội Cộng Sản Việt Nam phê chuẩn và có hiệu lực thi hành, cùng lúc với hiệp định đánh cá chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các quan chức Cộng sản Việt Nam lúc đó đã không ngớt lời tán tụng cái gọi là “sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam cũng như đối với quan hệ hai nước Việt – Trung“ của hai hiệp ước này. Nhưng cũng kể từ đó thì ngày càng có nhiều ngư thuyền, ngư dân ta bị “tàu lạ” rượt đuổi, bắt bớ; bị cướp bóc ngư cụ ngư sản, thậm chí bị bắn giết ngay trên những vùng biển của đất nước mình. Đến tháng 6 năm nay, tức là 5 năm sau những lời tán tụng hồ hỡi vừa nêu trên, thì phần lớn ngư dân miền Trung Việt Nam đã không dám ra khơi đánh cá xa bờ vì sợ bị tàu Trung Quốc đâm chìm hoặc bị bắt đòi tiền chuộc.
Trước những hành vi ngang ngược và tàn bạo trong chủ trương lấn chiếm của Bắc Kinh như vừa kể, nhà cầm quyền Hà Nội đã làm gì để bảo vệ ngư dân và chủ quyền quốc gia, vốn là nhiệm vụ chính yếu của một nhà nước. Ngoài những lời tuyên bố chiếu lệ của phát ngôn viên bộ ngoại giao Lê Dũng (vốn đã bị Trung Quốc vứt vào sọt rác từ lâu), và lí nhí XIN Trung Quốc CHO ngư dân Việt Nam được đánh cá trên vùng biển của Việt Nam; họ đã chẳng làm gì cả. Thậm chí không dám dùng đến những nguyên tắc ngoại giao căn bản để chính thức phản đối, hoặc dùng đến những cơ chế quốc tế sẵn có để đa phương hoá vấn đề, hầu nếu không giải quyết được, thì ít ra cũng tìm thêm sự hậu thuẫn của những quốc gia cùng có mối lo chung về hiểm hoạ bành trướng của Trung Quốc. Tại sao Hà Nội chấp nhận im tiếng như vậy?
Hà Nội vẫn thường khoả lấp cho sự hèn hạ của họ là phải khéo léo ngoại giao, không nên chọc giận và đối chọi với sức mạnh của Trung Quốc. Khi khoả lấp như vậy, Hà Nội quên rằng trong suốt giòng lịch sử chưa bao giờ Việt Nam mạnh hơn Trung Quốc, nhưng tổ tiên Việt Nam chưa bao giờ hèn hạ, quỵ luỵ nước Tàu như hiện nay. Hơn thế nữa, trong cuộc chiến Việt Nam mấy chục năm trước, Cộng sản Việt Nam không hề mạnh hơn Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà. Thế nhưng tại sao họ vẫn quyết đánh cho đến người Việt Nam cuối cùng, cho dù phải “đốt cả dãy Trường Sơn”?
Tệ hơn nữa, lãnh đạo đảng CSVN ngày nay còn cố tình xóa hoặc làm nhòa bớt đi những hy sinh của chính người Việt trong các cuộc chống quân Trung Quốc xâm lăng trong 30 năm qua. Trong trận hải chiến Trường Sa 21 năm về trước, hơn 60 chiến sĩ Hải Quân Việt Nam đã nằm xuống trong lòng biển mẹ trong nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc. Dù rằng sau đó phía Trung Quốc đã phổ biến đủ loại tài liệu, phim ảnh trong mục đích làm nhục Hải Quân và dân tộc Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay, trong mọi tài liệu, báo cáo, sử sách; điển hình là quyển “Lịch Sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam 1955-2005” của Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, lãnh đạo Đảng vẫn không dám cho ghi đích danh kẻ xâm lược là Trung Quốc, mà phải đổi thành “hải quân lạ”, “đối phương”, “tàu chiến nước ngoài”,… Phải chăng, khi không xác định rõ kẻ thù, giới lãnh đạo Hà Nội đồng thời cũng không muốn xác định rõ mục tiêu bảo vệ tổ quốc của trận chiến? Hay nói cách khác, phải chăng đây là cách giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam phủ nhận sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam để làm vừa lòng quan thầy phương Bắc? Và còn nhiều thí dụ khác nữa quanh việc Hà Nội xóa đi nhiều khu mộ binh sĩ Việt Nam dọc theo biên giới Việt-Trung trong lúc Bắc Kinh cho xây đủ loại cổng tưởng niệm. Tại sao Hà Nội chấp nhận tự muối mặt như vậy?
Tương tự, trong những vụ ngư thuyền Việt Nam bị “tàu lạ” húc chìm; bị hải tặc “nước lạ” cướp bóc ngư cụ, ngư sản; bắt bớ đòi tiền chuộc bằng đồng Nhân dân Tệ của “nước lạ” v.v… đài truyền hình “nước lạ” huyênh hoang chiếu cảnh mấy chiếc “tàu lạ” to lớn hùng hổ bao vây rượt đuổi chiếc thuyền nhỏ bé đáng thương của ngư dân ta; hình ảnh ngư dân ta van lạy lính “nước lạ” (chỉ thiếu hình ảnh xác một ngư dân ta ướp đá được đưa về bến là không được họ chiếu lên)… Tức là kẻ cướp đã tự nhận họ là quân đi ăn cướp… Thế nhưng báo đài của nhà nước vẫn im thin thít. Thoang thoảng nhắc đến thì phải gọi là “tàu lạ”. Trong khi công an thì khoác lác về tài bắt “khủng bố”, như thể không cái gì tránh khỏi được sự… ”nhanh nhạy” của lực lượng an ninh; nhưng chưa bao giờ cảnh sát biển hay lực lượng phòng duyên bắt được một “tàu lạ” nào, khi mà chúng nhan nhản ở ngoài khơi để thường trực ức hiếp ngư dân ta. Trong các bài báo lớn tiếng tuyên bố công an hết lòng bảo vệ ngư dân, người ta chỉ thấy những tấm hình của các quan chức công an ĐỨNG TRÊN BỜ. Tại sao lãnh đạo Đảng lại giao việc bảo vệ ngư dân cho công an trên bộ chứ không giao cho hải quân?
Đã đành việc lãnh đạo Đảng CSVN vô cùng hèn yếu trước Trung Quốc là một điều hiển nhiên không thể chối cãi, nhưng nhìn cách họ đối xử với dân tộc Việt Nam thì hầu hết các tổ chức nhân quyền và chính phủ thế giới đều phải kinh ngạc về mức độ hung bạo và ác hiểm của họ, đặc biệt là trong những vụ việc liên quan đến Trung Quốc. Công an CSVN thẳng tay đàn áp sinh viên, thanh niên khi những trái tim trẻ này biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước. Công an theo dõi thường xuyên và bắt bớ, trù dập bất cứ ai động đến Bắc Kinh, ngay cả khi họ phản đối tại nhà riêng: Việc cô Phạm Thanh Nghiên toạ kháng tại nhà với biểu ngữ “Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam” là lập tức thành người có tội; việc cô Quỳnh Như mặc áo mang biểu hiệu yêu nước cũng bị xem là có tội; mà trong đó công an phải đặc biệt đưa hai chuyên viên Trung Quốc đến để xử lý dữ kiện trong máy vi tính của Quỳnh Như hầu…. “bảo vệ an ninh cho Việt Nam”…. Còn nhiều, nhiều nữa những dẫn chứng nhục nhã, hèn hạ tương tự. Nhưng lý do nào khiến cộng sản Việt Nam hành xử hèn hạ và đốn mạt như vậy?
Sự lên tiếng của ông Dung Danh Dy trong cuộc phỏng vấn ngày 2 tháng 7 vừa qua trên đài Á Châu Tự Do đã hé mở cho người ta thấy phần nào những nguyên nhân này.
Trong cuộc phỏng vấn này, ông Dương Danh Dy đã cho biết, lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam đã có một số điều hứa về biển Đông với Trung Quốc. Mà nguyên nhân giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đưa ra lời hứa là do họ dốt, không biết gì cả (*) (những thậm từ ’dốt’, ’không biết gì cả’ là nguyên văn lời của ông Dương Danh Dy). Ông Dương Danh Dy là một nhà ngoại giao lão thành, từng là đại sứ của Hà Nội tại Bắc kinh, cho biết thêm rằng, ông biết rất rõ những điều hứa đó, nhưng lại không tiện nói ra trong cuộc phỏng vấn vừa nêu.
Đến đây thì hẳn người ta đã hiểu vì nguyên nhân nào mà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam lại nhu nhược, hèn hạ đến thế. Sự tiết lộ cuả ông Dương Danh Dy cũng giúp giải toả phần nào những nghi vấn về sự thậm thụt ký kết các hiệp ước biên giới trên bộ và trên biển giữa Cộng Sản Việt Nam với Trung Quốc, mà giới quan sát cho rằng, có thể còn có những mật ước hoặc điều kiện gì phía sau, để đến nỗi gần 10 năm sau khi ký kết mà Hà Nội vẫn chưa đưa ra được các bản đồ liên hệ, lẽ ra phải đi kèm với các hiệp ước. Và đến đây thì người ta cũng hiểu tại sao trong khi đồng bào ngư dân đang triền miên bị Trung Quốc ức hiếp, bắt bớ, bắn giết, mà giới lãnh đạo đảng lại muối mặt liên tục sang Tàu để tươi cười ôm hôn thắm thiết các đồng chí cộng sản của họ.
Một đất nước bị một đảng độc quyền cai trị, mà thành phần lãnh đạo của đảng đó vừa nhu nhược, hèn nhát, ngây thơ với ngoại bang nhưng lại vô cùng hung tợn, ác hiểm, thủ đoạn với dân tộc, thì tương lai của nước đó như thế nào thiết tưởng đã quá rõ.
Trong cuộc toạ đàm về Biển Đông ở Sài Gòn vừa qua, Giáo sư Nguyễn Nhã đã khẩn thiết nói lên nhu cầu về sự đồng thuận dân tộc, nếu không thì viễn ảnh Việt Nam trở thành Tây Tạng hay Tân Cương chẳng chóng thì chầy sẽ trở thành hiện thực… Sự đồng thuận của mọi thành phần dân tộc cả ở trong lẫn ngoài nước trước hiểm hoạ Trung Quốc là điều đang và chắc chắn sẽ hình thành. Vấn đề còn lại là, với một đảng và nhà nước cai trị quốc gia, có thành phần lãnh đạo đang bị Trung Quốc nắm thóp, thỉnh thoảng bị Bắc Kinh bắt chẹt, bằng cách dọa dẫm sẽ công bố những điều mà do sự ngu dốt giới lãnh đạo Hà Nội đã hứa… thì liệu rằng đảng đó và nhà nước đó có đồng thuận được với dân tộc hay không? Và ngay cả khi họ hồi tâm có ý hướng muốn đồng thuận, thì liệu rằng Bắc Kinh có cho phép họ đồng thuận với dân tộc, để Việt Nam có cơ may trở nên hùng cường, làm đối thủ cản trở mộng bành trướng của họ hay không?
Trả lời nhưng câu hỏi vừa nêu, người Việt Nam sẽ thấy rất rõ ưu tiên của dân tộc là gì, để đất nước không trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương sau này.
====
(*) Nguyên văn lời ông Dương Danh Dy: “Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.”. (chữ ’chúng ta’ ở đây là giới lãnh đạo đảng CSVN)
Lê Vĩnh
2009/07/24
Từ nền luật pháp rừng rú tới tình trạng tỵ nạn giáo dục

Theo tin loan tải trên trang điện báo “Tuổi Trẻ Online” ngày 29/6/2009 thì Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị cho Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam thi hành biện pháp áp lực lên các Luật Sư có vấn đề với Đảng CS. Lời lẽ của bản thông cáo tất nhiên là nhẹ nhàng hoa mỹ hơn. Thay vì viết “Thủ Tướng chỉ thị” thì viết rằng “Thủ Tướng có ý kiến”, và thay vì nói thẳng là những ai “có vấn đề với đảng CSVN”, thì lại lòng vòng thêm vào nào là “tác động xấu đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, lợi ích hợp pháp của cơ quan” v.v và v.v. Nhưng dầu có vòng vo hoa mỹ thế nào đi nữa, thì mọi người cũng thừa hiểu là thông cáo này chỉ là lời phụ họa cho hành động của Nguyễn Đăng Trừng, một đảng viên đảng CSVN trong vai trò Chủ Nhiệm Luật Sư Đoàn Thành Phố Sài Gòn. Nguyễn Đăng Trừng đã khai trừ LS Lê Công Định khỏi danh sách luật sư của Đoàn vào ngày 22/6, nghĩa là 9 ngày sau khi Ls Định bị công an bắt.
Việc khai trừ Ls Lê Công Định không phải là một hành động dựa vào pháp lý, vì Ls Định mới bị Công An bắt giữ, chưa hề bị kết án. Việc khai trừ cũng chẳng để răn đe ai, vì sau khi bị công an ập vào nhà khám xét và tống giam, Ls Định đã không được sống như một người dân thường. Nay có thêm “lệnh” của ông Chủ Nhiệm Luật Sư Đoàn là không còn được ra cãi trước toà, thì cũng chẳng làm ông cực khổ thêm, hay khiến các luật sư khác thêm sợ hãi. Điều này chẳng khác gì người bị chó cắn chẩy máu, nay bị rách thêm một miếng quần, nhằm nhò gì!
Hành động của Nguyễn Đăng Trừng, trong vai trò Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư, chỉ cho thấy rõ hơn vai trò của đương sự là đại diện cho đảng CSVN để chế ngự giới luật sư VN, chứ không phải là của một vị Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn như trong các xã hội văn minh; và xóa tên Ls Lê Công Định khỏi luật sư đoàn chỉ là hành động đánh người ngã ngựa để ra oai. Một hành động nhỏ nhen, không tự trọng, thể hiện tư cách của hầu hết các cán bộ CS đang nắm chức quyền trong chế độ.
Việc Thủ Tướng Chính Phủ ra lệnh cho Luật Sư Đoàn phải thế này hay thế kia, và người đứng đầu tổ chức luật sư tự ý xoá tên đồng nghiệp của mình – dầu đương sự mới chỉ bị công an bắt – chỉ xẩy ra trong chế độ độc tài gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa VN. Cũng cần phải nói thêm là, trong chế độ XHCN của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ Nhiệm Nguyễn Đăng Trừng, thì bất cứ ai và bất cứ lúc nào, người dân cũng có thể bị gọi ra đồn công an “làm việc” và bị bắt tạm giam…
Người ta thường gọi luật của CS là luật rừng, nghe riết thành quen tai và dễ chấp nhận bị lừa bởi câu “chuyện bất công ở đâu chẳng có”. Nhưng có những điều vô lý trắng trợn, chỉ hiện hữu dưới chế độ CS. Tỷ dụ như điều 4 Hiến Pháp. Còn gì trắng trợn hơn sự việc các ông CS long trọng tuyên bố là đảng Cộng Sản của các ông ấy lãnh đạo nước Việt Nam, rồi ai không đồng ý thì là… chống lại nước Việt Nam. Chuyện vô lý này họ ngang nhiên duy trì, mặc dầu nó mâu thuẫn với vô số điều khác trong bản Hiến Pháp của họ, một bản Hiến Pháp viết ra cũng chỉ để lừa dối người khác.
Những người Dân Chủ không thể nào giải thích được cho người Cộng Sản, mà phải theo châm ngôn của dân nhậu VN là “lấy mỡ chó rán chó”. Phải mang cái Lưỡi Bò Trung Cộng ra mà ví với điều 4 Hiến Pháp thì may ra người CSVN mới hiểu. Trung cộng chúng chẳng cần Luật Biển về hải phận hay vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm. Chúng muốn chiếm là chiếm, và gọi cả mấy triệu cây số vuông biển ở giữa Việt Nam, Philipin, Nam Dương, Mã Lai là biển riêng của chúng… Căn bản luật pháp của điều 4 Hiến Pháp CSVN chính là căn bản Hải Phận Lưỡi Bò của CS Trung Hoa. Và khi CSVN dùng du đãng đập phá tài sản của Giáo Sứ Thái Hà để chiếm đoạt đất đai thì CSTH dùng tầu của chúng húc chìm tầu đánh cá của ngư dân VN để chiếm đoạt lãnh hải.
CSVN độc quyền sở hữu đất nước Việt Nam, nhưng họ lại bất lực trước sự xâm lăng của ngoại bang. Vì vậy, nay đã đến lúc CSVN phải trả lại chủ quyền đất nước cho người dân Việt Nam, vì chỉ có dân tộc VN mới có khả năng bảo vệ lãnh thổ như tổ tiên chúng ta đã làm.
Ngay cạnh bài thông báo về việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho Luật Sư Đoàn, trang điện báo của Tuổi Trẻ Online có một bài viết khác nhan đề: “Tỵ nạn giáo dục”. Bài báo này nói về hoàn cảnh và nhu cầu các gia đình phải khổ sở tìm cách gửi con em ra ngoại quốc theo học với kết luận như sau:
“Chắc không nhiều những nơi trên trái đất này người ta tiễn con đi học bằng nỗi ngậm ngùi: tôi không vọng ngoại, không sính ngoại, không chơi tiền, tôi chỉ muốn con mình được một chữ học đúng nghĩa.”
Đây là hậu quả của chế độ độc tài, phải bưng bít thông tin, nhồi nhét tuyên truyền để đảng CSVN độc quyền chính trị và kinh tế… Hậu quả là họ đã tạo ra một xã hội vô học. Muốn ra khỏi thảm cảnh này, phải chấm dứt độc tài để phát triển giáo dục và cùng nhau giữ nước; “Tỵ nạn giáo dục” không thể là giải pháp cho dân tộc Việt Nam chúng ta.
Hoàng Cơ Định
2009/07/19
Còn ai KHÔNG chống nhà nước CHXHCNVN?

Đọc xong bản Kết luận Điều tra dài hơn 6500 chữ của Bộ Công An CSVN về 6 nhà dân chủ bị bắt vào tháng 9/2008, người ta vẫn không hiểu nổi thực sự họ đã làm gì sai trái. Nói cách khác, nếu gọi các dẫn chứng trong tài liệu này là chứng cớ phạm pháp, thì có lẽ chẳng ai đang sống tại Việt Nam mà lại không phạm tội “đã hoặc đang chống lại nhà nước CHXHCNVN”.
Thật vậy, nhóm chữ “chống nhà nước CHXHCNVN” được nhắc đi nhắc lại đến 40 lần trong bản điều tra, như là cách để cố tạo ấn tượng mà Bộ Công An CSVN muốn gán ghép, khi mà bản điều tra không đưa ra được bất cứ lý lẽ hay bằng chứng thuyết phục nào. Toàn bộ sự việc khá đơn giản. Các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn đã bàn tính thực hiện và giúp nhau treo một biểu ngữ tại cầu vượt Lai Cách, thuộc tỉnh Hải Dương, vào ngày 7/9/2008 với nội dung: “Khối 8406. Lạm phát, dân nghèo khó là do chính quyền cộng sản; mất dân chủ, tự do, nhân quyền là do chính quyền cộng sản, yêu cầu đa nguyên, đa đảng”. Bên cạnh đó, cả 6 nhà dân chủ này đều tàng trữ, viết và đăng trên mạng Internet một số những bài phân tích ý nghĩa các biến cố lịch sử cận đại của đất nước, cùng nhiều bài khác phân tích về nguyên nhân các tệ nạn đang lan tràn trong xã hội Việt Nam và tình trạng dâng nhượng dần đất, biển, đảo, v.v. cho Trung Quốc; mà trong đó những người lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN vừa chẳng có khả năng tự giải phẫu để chấm dứt tình trạng tham nhũng trong tận xương tủy của họ, vừa phải chịu trách nhiệm chính về việc mất đất mất biển. Toàn bộ sự kiện chỉ có thế! Tại các nước tự do, dân chủ, tất cả những việc vừa kể đều chỉ là các sinh hoạt bình thường của học sinh trung học và đại học, được nhà trường khuyến khích.
Chính vì vậy mà công luận thế giới không thể hiểu nổi:
Tại sao một đảng luôn tuyên bố họ là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước Việt Nam, mà lại không nhận trách nhiệm về tình trạng lạm phát, nghèo khó, tụt hậu, băng hoại hiện nay? Các phân tích nguyên nhân những sự tiêu cực đó sai chỗ nào?
Tại sao một nhà nước sau hơn 30 năm diệt trừ tham nhũng, và đã rất nhiều lần thú nhận tệ trạng này chỉ tăng chứ không giảm; nay lại truy tố những người chỉ ra sự bất lực đó?
Tại sao người Việt suy nghĩ và kêu gọi mọi người cùng soi rọi lại lịch sử Việt, lại bị coi là hành vi “chống nhà nước CHXHCNVN”?
Và tại sao ngay cả sự tuyên nhận “Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam” mà cũng bị kết án là “chống nhà nước CHXHCNVN”? Như vậy, nhà nước đó là… nhà nước Tàu hay Việt?
v.v…
Nếu Bộ Công An không bắt các thành phần nêu trên thì cả thế giới đều thấy rõ điều 88 bộ luật hình sự chỉ là cái cớ để nhà nước CSVN dùng luật pháp của chế độ độc tài một cách tuỳ tiện nhằm khủng bố các tiếng nói công chính.
Cũng qua bản kết luận điều tra này, Bộ Công An xác nhận với thế giới câu khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chỉ là… khẩu hiệu xuông. Trong thực tế người dân chẳng được quyền “đề biết, để bàn”, chứ đừng nói đến “để kiểm tra”. Vì ngay cả việc “dân biết” thì người dân cũng đã không được “biết” nhiều điều cần biết; hoặc chỉ được biết theo cách nhà nước muốn. Nếu tự tìm hiểu thêm thì mọi công dân đều có thể bị chụp mũ theo luật 88 tội tàng trữ “tài liệu có nội dung chống nhà nước”, ngay cả khi tài liệu đó do chính mình viết ra… Qua đến khâu “dân bàn” thì càng khó hơn. Nếu dân muốn “bàn” với nhiều người dân khác thì “bàn” bằng cách nào? Khi mà cả 700 tờ báo, đài đều chỉ có một tổng biên tập? Một vài nhà báo vừa mới vào đề, chưa kịp “bàn”, đã bị thu hồi thẻ nhà báo, hay bị “chuyển công tác”. Tóm lại, những phản biện cần thiết đều không có chỗ “để bàn”, còn các lời bàn xuôi thì đã có cả một đội ngũ thợ viết chăm lo. Từ đó mới hiểu tại sao 6 nhà dân chủ đành phải dùng cách treo biểu ngữ và tung tờ rơi.
Chính vì vậy, bản kết luận điều tra này sẽ là một bằng cớ trên giấy trắng mực đen về mức độ vi phạm trắng trợn của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đối với quyền tự do ngôn luận của người dân Việt Nam.
Sau hết, về tính chuyên môn nghề nghiệp, ai đọc bản kết luận điều tra này đều thấy rõ sự cố tình bôi bẩn ý nghĩa việc làm của 6 nghi can, bằng cách gắn liền từng người, từng hoạt động của họ với các khoản tiền vài trăm ngàn đồng VN, nhằm cố tạo ấn tượng là họ làm chỉ vì tiền. Nhưng chính vì sự gán ghép những món tiền cỏn con này và sự khủng bố của guồng máy công an, mà công luận quốc tế, đặc biệt là giới điều tra cảnh sát, thấy ngay sự khôi hài, hạ cấp, và non nớt của bản điều tra do một ban ngành chuyên môn của CSVN làm ra.
Chắc chắn không chỉ người Việt Nam mà cả thế giới tự do đều sẽ thấy 6 nhà dân chủ – Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn – không chỉ hành xử đúng đắn quyền tự do ngôn luận của mình, mà còn là những người tiên phong trong nhận thức: “chống những người cầm quyền bất xứng không phải là chống lại đất nước”. Ngược lại, chính vì thiết tha với vận mạng đất nước mà họ phải chặn đứng bàn tay của những kẻ cầm quyền bất xứng, đang bán rẻ giang sơn và coi thường dân tộc. Trong những năm tháng trước mặt, chính những kẻ sắp áp đặt các bản án bất công lên những nhà ái quốc này; từng tên một, sẽ phải ra đứng trước tòa của toàn dân về những trò khủng bố người yêu nước hôm nay!
Vũ Thạch
2009/07/08
Đàn Áp Không Thể Hiện Sức Mạnh

Trong bốn tuần lễ vừa qua tình hình Việt Nam có nhiều sự kiện đáng ghi nhận. Vào đầu tháng 6, CSVN “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định, một nhân vật chẳng những được nhiều người Việt ở trong và ngoài nước biết đến, mà còn là khuôn mặt quen thuộc của nhiều chính giới ngoại quốc. Trước vụ bắt ông Định, nhà nước đã bắt giam ông Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân ở Sài Gòn. Sau vụ bắt ông Định, họ bắt thêm 3 người nữa là ông Lê Thăng Long, bà Trần Thị Thu và bà Lê Thị Thu Thu. Trong số những vụ bắt bớ vào dịp này, việc bắt ông Lê Công Định làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ hải ngoại cũng như quốc tế. Nhưng chỉ một tuần sau đó, công an tuyên bố luật sư Định đã nhận tội và xin khoan hồng. Đầu tháng 7, có thêm 2 người nữa bị bắt giữ, đó là anh Nguyễn Tiến Trung và ông Trần Anh Kim, mà nhà nước nói rằng họ có bằng chứng buộc tội căn cứ theo lời khai của luật sư Định.
Trước những vụ bắt bớ này, nhiều người đã nhận định về một “làn sóng đàn áp mới”, mà con số người bị bắt giữ sẽ nhanh chóng vượt qua con số 7 tính đến hôm nay. Tuy nhiên, đã biết về bản chất của chế độ độc tài, người ta hiểu rằng việc đàn áp những người đối kháng vốn là nhiệm vụ trường kỳ của guồng máy công an. Để bảo vệ ngôi vị thống trị, họ không thể dung nạp những tiếng nói đối kháng. Và vì thế, việc bắt giữ những người yêu dân chủ chỉ là công việc trước hay sau. Nếu nó phải ngưng nghỉ là do áp lực của quốc tế và người dân, chứ chẳng phải là do sự bầy tỏ thiện ý của chế độ. Dư luận cũng đưa ra nhiều dự đoán về nguyên do của những vụ bắt bớ này.
Dự đoán đầu tiên, căn cứ vào những chi tiết do công an phổ biến, cho rằng việc bắt giữ nhằm ngăn chặn sự ra đời của đảng Lao Động và đảng Xã Hội, có nguy cơ phá vỡ bối cảnh độc quyền chính trị của đảng cộng sản hiện nay. Báo chí nhà nước nói rằng luật sư Định đã tham dự một khoá huấn luyện bất bạo động do đảng Việt Tân tổ chức ở Thái Lan. Ông cũng tham gia và là thành viên cao cấp của đảng Dân Chủ Việt Nam, góp phần soạn thảo một bản “tân hiến pháp” cho đảng này. Từ những chứng cứ trên, cơ quan công tố CSVN đã ký lệnh truy tố ông Định về tội danh “chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa”, căn cứ theo điều 88 của bộ luật hình sự CSVN.
Sự truy tố này cho thấy CSVN đã “tiến bộ giật lùi”. So với thủ đoạn giấu súng đạn vào vali của du khách để vu vạ là bắt được khủng bố của 2 năm về trước, thì lý luận “khủng bố bằng đấu tranh bất bạo động” lần này vừa ngớ ngẩn vừa thiếu kín đáo. Cũng như thế, việc gán ghép hành động chuẩn bị sự ra đời của 2 đảng Lao Động và Xã Hội là “chống phá nhà nước” vừa cho thấy sự bế tắc của cơ quan tuyên truyền nhà nước, vừa thể hiện trắng trợn thái độ khinh thường trình độ nhận thức của người dân. Nó còn cho thấy sự phá sản của chính sách “một mình một chợ” của đảng cộng sản. Hơn nửa thế kỷ trước, họ đã nhào nặn lên 2 đảng Dân Chủ và Xã Hội để làm bình bông trang trí cho sự cầm quyền độc tài của đảng cộng sản, tha hồ tô vẽ cho 2 đảng bù nhìn này những vai trò kệch cỡm. Ngày nay, như ngôn ngữ dân gian thường nói: “âm binh đã vật lại phù thủy”, cộng sản chẳng những đã phải thủ tiêu 2 đảng bù nhìn nói trên, núp dưới tấm bảng “không cần đa đảng”, mà vẫn nơm nớp lo sợ những người dân chủ xây dựng đảng phái chính trị để hình thành bối cảnh sinh hoạt đa nguyên. Tình hình đúng là đã xoay chuyển 180 độ, nghiêng thuận lợi về phong trào dân chủ.
Một dự đoán khác căn cứ vào những biến chuyển hiện nay ở Việt Nam, mà đề tài bauxite chiếm vị trí hàng đầu. Có thể nói sau Hoàng Sa, Trường Sa, thì Bauxite Tây nguyên là vấn đề được người Việt quan tâm hơn hết, và cũng là chủ đề khiến nhiều thành phần người Việt khác nhau, trong đó có cả cán bộ, đảng viên cộng sản, có lập trường gần gũi với nhau nhất. Lập trường đó là kiên quyết chống đối thái độ khiếp nhược của CSVN trước Trung cộng. CSVN đã để mất Hoàng Sa, Trường Sa, và nay vùng Tây nguyên cũng có nguy cơ bị Trung cộng khống chế. Hình ảnh lính Trung cộng trấn đóng những hòn đảo ngoài biển Đông, và nay, những “tô giới” của Trung cộng xuất hiện ở Sài Gòn, Hải Phòng, Đăk Nông… khiến lòng căm phẫn của người dân đã lên đến cao độ. Trong bối cảnh đó, vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận trong và ngoài nước. Đây là lần đầu tiên một giới chức cao cấp nhất của CSVN bị khởi kiện đích danh và công khai, và về một chủ đề đang nóng bỏng. Cho dù “luật rừng” của CSVN khiến người ta dễ liên tưởng đây là một vụ “con kiến kiện củ khoai”, nhưng hành động của luật sư Cù Huy Hà Vũ đã thể hiện thái độ “không sợ hãi” của người dân trong nước. Đây là yếu tố căn bản để từ đó người dân Việt Nam sẽ đứng lên đòi lại quyền làm chủ đất nước của mình. Như thế, trong khi chế độ chưa tìm được cách hoá giải thế kẹt hiểm hóc này, thì việc bắt giữ luật sư Lê Công Định được coi là để lái dư luận về một hướng khác, ít nguy hiểm hơn.
Cho dù phát xuất từ động lực nào, việc bắt bớ của CSVN cũng chỉ cho thấy hoàn cảnh suy yếu của họ. Từ xa xưa, việc “trị nước” vẫn cốt ở chuyện “yên dân”, và một vị vua nhân đức vẫn thường được ca ngợi đến muôn đời. Ngược lại, những chế độ bạo tàn thường chấm dứt ngay sau khoảng thời gian họ xử dụng hết mọi hình thức bạo lực. Có một bài học mà những nhà độc tài chỉ hiểu ra được khi họ đã bị mất ngôi: đó là khi người ta không còn sợ hãi, thì không bạo lực nào có thể đàn áp được họ. Nhìn lại còn đường phát triển của phong trào dân chủ Việt Nam, dù là con đường thiên lý và không ít chông gai, nhưng những tổn thất không bao giờ làm cho những người yêu nước sờn lòng. Trong một chế độ mà nhà tù nhiều hơn trường học như ở Việt Nam hiện nay, những người yêu dân chủ không phải là không nhìn thấy những gian nguy, bất trắc đang chờ đợi họ, nhưng như anh Đỗ Nam Hải đã từng nói: “tôi thà bước vào nhà tù nhỏ để dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi nhà tù lớn”, hay như một nhà dân chủ khác, bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã viết ngay bài “Hãy bắt tôi đi” chỉ 3 ngày sau khi công an tống giam luật sư Lê Công Định, thì người ta sẽ hiểu rằng, nếu CSVN định xử dụng những vụ bắt bớ hiện nay để ngăn chặn hay đe dọa những người yêu nước, thì họ đã chỉ làm một việc phản tác dụng.
Với hiểm họa Trung cộng càng ngày càng thể hiện trước mắt qua những hành động ngang ngược như cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển Đông, bắt giữ ngư phủ để đòi tiền chuộc, và ngày hôm qua, viên tham tán toà đại sứ Trung cộng tại Hà Nội đã lớn tiếng dậy dỗ đòi “khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị” báo VietnamNet của CSVN, vì tờ này đã tường thuật một cuộc thảo luận phê bình “hàng Trung quốc kém chất lượng”, thì những ai còn có một chút hồn Việt Nam mà không khỏi cảm thấy tủi nhục? Như thế, trước sự sẵn sàng hy sinh để bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước, và để Việt Nam được có một ngày mai tươi sáng, bạo lực nào có thể ngăn cản được những tấm lòng như của nhà tranh đấu trẻ Nguyễn Tiến Trung?
Cũng có dự đoán cho rằng việc bắt giữ những người dân chủ vừa qua là để khoả lấp dư luận đang chú mục vào những vụ tham nhũng trên thượng tầng lãnh đạo, vừa bị liên tiếp phanh phui. Nếu quả như vậy thì việc đàn áp những người đối kháng chỉ làm cho người dân thấy rõ thêm là tình trạng tham nhũng chỉ chấm dứt cùng lúc với chế độ cưu mang nó. Với những phanh phui của quốc tế vừa qua, những con hạm gộc đã bị Nhật Bản lôi ra với vụ PCI, Đức phơi bầy vụ công ty Siemens phải “lót tay” cho cán bộ cộng sản, Úc tố cáo vụ hối lộ in tiền Polymer, Mỹ vừa cáo giác vụ Nexus, và Nguyễn Tấn Dũng bị tố ăn 150 triệu đô la trong vụ bauxite… thì chính những người đảng viên cộng sản cũng thấy rõ là chế độ này không còn lý do gì để tiếp tục thống trị người dân.
Nói tóm lại, càng phải xử dụng đến bạo lực, đàn áp, chế độ cộng sản càng phơi bầy tình trạng suy yếu của mình. Và điều đó càng nêu cao chính nghĩa của đường lối đấu tranh bất bạo động của phong trào dân chủ. Sức nóng của ngọn lửa trong tim có khả năng nung chẩy sắt thép của súng đạn. Vấn đề của tất cả mọi người chúng ta là triệu người cùng góp một bàn tay, để xô ngã hòn đá tảng đang cản bước tiến của dân tộc. Tương lai của Việt Nam cần bàn tay của tất cả mọi người, không riêng chỉ những nhà đấu tranh đang ở trong hay ngoài nhà tù nhỏ.
Trần Hùng
08/07/2009
2009/07/04
Thành Kính Phân Ưu Nhà Ái Quốc Nguyễn Hộ

Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
Xin trân trọng gởi lời Thành Kính Phân Ưu đến
Quí Tang Quyến,
Quí Cựu Thành Viên Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ,
Quí Cựu Cộng Tác Viên Báo Truyền Thống Kháng Chiến,
và Những Vị Chia Xẻ Cùng Lý Tưởng
trong ngày từ giã Nhà Ái Quốc NGUYỄN HỘ.
Cụ đã không chấp nhận im tiếng để hưởng bổng lộc suốt đời còn lại,
nhưng đã can đảm đứng thẳng theo tiếng lương tâm,
công nhận trước toàn dân sự chọn lựa lầm lẫn của đời mình,
dứt khoát từ bỏ đảng CSVN khi biết rõ bản chất của họ,
dũng cảm cảnh báo dân tộc về tương lai băng hoại dưới chế độ độc tài,
và vì thế, Cụ đã chấp nhận cảnh giam cầm tại gia đến hơi thở cuối cùng.
Đảng Việt Tân xin bày tỏ niềm vinh hạnh đã được chia xẻ những tâm tư và cộng tác với Cụ Nguyễn Hộ trong công cuộc tranh đấu cho tương lai dân tộc.

2009/06/20
Tại sao Nhà Cầm Quyền CSVN phải bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định

Có người cho rằng đây là một đòn “đánh phủ đầu” hoặc “đánh lạc hướng”, nhưng thử hỏi đánh phủ đầu ai, đánh lạc hướng ai và tại sao lại phải bắt khẩn cấp? Muốn có lời giải đáp, chúng ta chỉ việc trả lời các câu hỏi:
Tại sao nhà cầm quyền CSVN đã bắt tù Ls Lê Chí Quang, Blogger Điếu Cầy, đóng cửa báo Du Lịch … Những người này chẳng có âm mưu gì để lật đổ “chính quyền cách mạng”, nhưng họ có một điểm chung là cùng chống hành động xâm lăng của Trung Quốc.
Câu hỏi thứ nhì là: Tại sao báo Hà Nội Mới ca ngợi tên xâm lược Hứa Thế Hữu, kẻ đã tàn sát biết bao sinh mạng người dân Việt Nam khi quân Tàu xâm lăng nước ta vào năm 1979 mà lại được khen thưởng, Bộ Công Thương đã để Trung Quốc ngang nhiên sử dụng trang Web của Bộ để tuyên truyền Biển Đông là lãnh hải của chúng mà không có nhân viên nào bị trừng phạt… Những kẻ này có đặc tính chung là chúng cùng phục vụ quan thầy Trung Quốc.
Vậy thì đường lối của lãnh đạo CSVN hiện nay là phục vụ Trung Quốc. Ai đụng tới Chủ thì Tay Sai không tha! Vì vậy mà gần đây, khi tầu Ngư Chính của Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm hải phận VN, rượt đuổi, không cho ngư dân VN đánh cá trên vùng biển của tổ tiên VN, thì nhà cầm quyền CSVN chỉ biết a dua theo giặc bằng cách phụ họa kêu gọi ngư dân Việt Nam hãy tránh xa các vùng biển Trung Quốc chiếm đoạt… Trong khi đó Ls Lê Công Định, người đã từng bảo vệ ngư dân đồng bằng Sông Cửu Long trong vụ kiện xuất cảng cá ba sa trước đây, lại chuẩn bị đưa vụ giặc Tàu bách hại ngư dân Việt Nam tại Biển Đông ra trước Toà Án Quốc Tế, thế là ông bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh “bắt khẩn cấp”.
Về lý do chính thức của vụ “bắt khẩn cấp” này, viên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Vũ Hải Triều đã cho biết là vì LS Lê Công Định “đã lợi dụng việc bào chữa cho số đối tượng chống đối (Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải), thông qua các luận cứ bào chữa để thực hiện ý đồ biến các phiên tòa thành diễn đàn tuyên truyền chống chế độ, xuyên tạc Hiến pháp, pháp luật, lên án chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.” Các vụ án mà Vũ Hải Triều viện dẫn đều đã xẩy ra từ lâu. Nếu gọi đó là tội thì sao phải để hơn 1 năm sau mới cho lệnh “bắt khẩn cấp”? Chẳng lẽ quan chức CSVN chậm hiểu đến thế sao? Đây quả là điều chỉ có người CSVN nói cho người CSVN nghe mà thôi.
Một tang vật khác được viện dẫn trên báo chí Đảng, như bằng cớ chống lại đảng CSVN của Ls Lê Công Định là hình bìa cuốn sách “Từ Độc Tài tới Dân Chủ” trong computer của ông Định. Thế ra đảng CSVN đã thành thực khai báo rằng Đảng chỉ là một tập đoàn độc tài. Và hô hào dân chủ tức là “chống Đảng”! Điều đáng xấu hổ là đảng CSVN không phải chỉ bịt mắt người dân VN, mà họ còn tự bịt mắt chính họ. Cuốn “Từ Độc Tài tới Dân Chủ”của Gene Sharp là một tài liệu công khai, đã được dịch ra 22 thứ tiếng và bản Việt ngữ do đảng Việt Tân thực hiện đã được phổ biến trên các mạng thông tin điện tử gần 3 năm qua.
Ngoài cuốn sách dùng làm tang vật buộc tội, guồng máy cầm quyền CSVN còn căn cứ vào các bản điều lệ lập Đảng Lao Động và dự thảo Hiến Pháp tìm thấy trong computer của Ls Định như những tang vật khác! Ở thế kỷ 21 này, trong computer của một người trí thức thiếu gì những tài liệu như vậy. Huống chi đây lại là computer của một ông luật sư hành nghề. Chắc chắn trong computer của Ls Định còn hàng chục, hàng trăm bản điều lệ hội đoàn, công ty. Nếu dùng lối suy diễn của CSVN thì ông Định cũng là thành viên của hết cả những hội đoàn và công ty đó hay sao? Cũng theo lối suy diễn này thì những sinh viên hay các nhà nghiên cứu về Mác – Lê Nin hay Mao Trạch Đông đều là ngưới Cộng Sản hay sao?
Trong cuốn “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” Nhạc sĩ Tô Hải có kể rằng, hồi xưa đã có lần ông suýt chết chỉ vì ông có tờ giấy khai sanh bằng tiếng Pháp, bị người của Nhà Nước CS hồi đó cho là tay sai của Tây. May mà có một ông lãnh đạo đã từng là lính khố xanh nên nhận ra đó là tờ giấy khai sanh. Vì vậy mà nhạc sĩ Tô Hải mới thoát! Hoá ra nền vô học chuyên chính của đảng CSVN vẫn còn thấm nhuần cho tới ngày nay. Trí thức mà bị bạc đãi và coi khinh như vậy làm gì hỏi sao quốc gia Việt Nam không tụt hậu?
Trở lại lệnh bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định, nó khẩn cấp không phải vì những lý lẽ tào lao do viên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Vũ Hải Triều đã nêu lên; ông Định bị bắt khẩn cấp vì ông sắp đụng vào Trung Quốc, vào chế độ quan thầy của nhóm lãnh đạo CSVN. Dụng tâm răn đe hay đánh lạc hướng không rõ có nằm trong ý đồ của đảng CSVN hay không, nhưng nếu có thì cũng chẳng răn đe được ai, vì sự chống đối lại nhà nước không phải là việc làm được khơi mào bởi giới trí thức. Sự việc người Nhà Nước CS cướp đoạt tài sản của người dân, tạo ra hàng trăm ngàn dân oan là sự thật hiển nhiên và phổ biến. Việc nhà Nước mở cửa cho Trung Quốc vào tàn phá Tây Nguyên để khai thác quặng nhôm mang về Tàu, việc Nhà Nước làm ngơ để Trung Quốc dành nơi đánh cá của ngư dân VN là những sự thật không thể chối cãi… Vì vậy mà bắt Ls Lê Công Định sẽ không răn đe được ai, và cũng chẳng làm dân Việt Nam sao lãng những vấn đề sống còn của dân tộc.
Trước đây, sự việc Nhà Nước CSVN bắt giam LM Nguyễn Văn Lý có thể đã tạm giải quyết được sự chống đối của giáo dân Nguyệt Biều. Nhưng, bản chất cuộc đấu tranh do LM Nguyễn Văn Lý khởi xướng là đấu tranh cho công bằng và công lý, nên những lý tưởng đó không chỉ giới hạn trong giáo xứ Nguyệt Biều, mà đã là yếu tố để khối đồng bào Công giáo, mười lần đông đảo hơn tại Thái Hà, tranh đấu một cách quyết tâm và mãnh liệt hơn. Trong tuần lễ vừa qua, người Việt trong và ngoài nước đã dành nhiều thì giờ theo dõi việc bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định. Cuộc tranh đấu của đồng bào cho Ls Định sẽ tiếp diễn, không những tiếp diễn mà còn là cơ hội để các Ls Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài không bị quên lãng, cho tới khi họ được phóng thích, như trường hợp Ls Lê Chí Quang, Bs Phạm Hồng Sơn, Ls Lê Quốc Quân và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Điều chắc chắn là những cuộc tranh đấu này không thay thế cho nỗ lực bảo vệ Tây Nguyên và chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông.
Hoàng Cơ Định
hoangcodinh@jps.net
2009/06/19
Bản Lên Tiếng Về Thủ Thuật Đàn Áp Của Nhà Cầm Quyền CSVN Đối Với Luật Sư Lê Công Định

Trước làn sóng phản đối ngày một thêm quyết liệt của nhân dân Việt Nam về hiểm họa khai thác bô-xít Tây Nguyên và sự khiếp nhược của Hà Nội đối với Bắc Kinh trên biển Đông, lãnh đạo đảng CSVN đang tìm mọi cách răn đe để bịt miệng người dân. Trong ý đồ đó, công an đã được lệnh “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định tại Sài Gòn với tội danh mơ hồ của điều 88 Luật Hình Sự: Tuyên truyền chống nhà nước. Sau đó, liên tục trên các báo, đài của chế độ, luật sư Lê Công Định bị buộc tội với đủ loại dữ kiện liên quan đến nhiều tổ chức, bao gồm cả Đảng Việt Tân. Và vào ngày 18/6/2009, chế độ tung ra tin tức và hình ảnh của cái gọi là luật sư Lê Công Định nhận tội và xin khoan hồng.
Trước sự kiện trên, Đảng Việt Tân xin trình bày một số nhận định như sau:
CSVN dùng Điều 88 Luật Hình Sự, Tuyên truyền chống nhà nước, để buộc tội luật sư Lê Công Định. Đây là một điều luật mơ hồ được CSVN dùng làm phương tiện để duy trì độc tài, bóp nghẹt những tiếng nói ôn hòa tranh đấu cho dân chủ. Đối với thế giới và Công Ước về Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, việc thay đổi chính quyền bằng phương pháp ôn hòa, bất bạo động là quyền chính trị của tất cả mọi người. Chỉ có lãnh đạo CSVN mới sợ hãi sự thay đổi ôn hòa và lợi dụng luật pháp để đàn áp những người không đồng quan điểm trong đó có luật sư Lê Công Định
Các tài liệu huấn luyện về Đấu Tranh Bất Bạo Động do Đảng Việt Tân thực hiện mà nhà cầm quyền tìm thấy khi lục soát nhà luật sư Lê Công Định và đưa ra như tang chứng, đều chỉ cho thấy lãnh đạo đảng CSVN đang đi ngược lại xu thế văn minh của nhân loại, và thực sự lo âu các phương tiện bạo hành để cai trị của họ sẽ bị vô hiệu hóa nếu đông đảo quần chúng cùng đứng lên tranh đấu bất bạo động. Đặc biệt, tập sách Từ Độc Tài Đến Dân Chủ mà báo chí của chế độ chụp hình là một tài liệu công khai, mọi người đều có thể tải xuống từ trang nhà www.viettan.org từ năm 2006.
Chính nhà cầm quyền CSVN vi phạm đủ loại luật lệ báo chí và hình sự khi điều động toàn bộ guồng máy tuyên truyền của chế độ vào việc bôi nhọ, dựng chuyện, vu cáo, và kết tội luật sư Lê Công Định mà chẳng cần chờ phán xét của toà án nào, dù là tòa do đảng CSVN kiểm soát hoàn toàn.
Trong hệ thống pháp lý đầy tính khủng bố và hoàn toàn vắng bóng các tiêu chuẩn tối thiểu về công lý như vậy, mọi lời khai, lời nhận tội, v.v… của nạn nhân mà chế độ tung ra đều phải xem là bằng chứng ép cung và hoàn toàn KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ.
Trước những thủ đoạn vừa trấn áp vừa đánh lạc hướng dư luận của nhà cầm quyền CSVN, đảng Việt Tân kính đề nghị cùng quí hội đoàn và toàn thể đồng bào, chúng ta:
Không để lãnh đạo đảng CSVN thành công trong ý định đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận ra khỏi các hiểm họa đang bao trùm đất nước, đó là hiểm họa khai thác bô-xít và mất dần chủ quyền tại Tây Nguyên; hiểm hoạ mất đảo, mất khoáng sản, và mất hải phận trên biển Đông vào tay Bắc Kinh.
Làm tất cả những gì có thể để bảo vệ và tranh đấu cho luật sư Lê Công Định, cũng như các tù nhân chính trị khác đang bị giam giữ hay vừa mới bị bắt.
Gia tăng hơn nữa việc vạch trần trước dân tộc thái độ trái ngược của Bộ Chính Trị đảng CSVN và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: càng khiếp nhược đối với Bắc Kinh thì càng hung hãn đối với dân tộc.
****
Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-0845
2009/06/18
Từ Lê Chí Quang Đến Lê Công Định

Cách đây 7 năm, Luật gia Lê Chí Quang đã bị công an Hà Nội bắt giữ tại quán cà phê Internet vì bị cáo buộc là vi phạm điều 88 luật hình sự (lưu hành những tài liệu chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa) vào ngày 21 tháng 2 năm 2002 và bị đưa về giam tại nhà tù B14 thuộc Tỉnh Hà Đông. Nửa năm sau, ngày 8 tháng 11, Cộng sản Việt Nam đã đưa anh Lê Chí Quang ra tòa, không có luật sư biện hộ, không cho thân nhân tham dự. Phiên tòa diễn ra không quá 3 tiếng đồng hồ và anh đã bị kết án 4 năm tù về tội ‘tuyên truyền chống lại nhà nước”. Nhưng do những áp lực mạnh mẽ của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại và của các tổ chức nhân quyền quốc tế, trung tuần tháng 6 năm 2004, Cộng sản Việt Nam đã phải thả luật gia Lê Chí Quang trước thời hạn, vào ngày 14 tháng 6 năm 2004, sau hơn 2 năm giam giữ.
Những thủ đoạn trấn áp của Cộng sản Việt Nam đối với anh Lê Chí Quang nói trên, chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là trả thù anh đã can đảm tố cáo ông Lê Khả Phiêu, lúc đó là Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh bí mật ký kết hai văn kiện: Hiệp định biên giới Việt Trung (1999) và Hiệp định phân ranh vịnh Bắc Việt (2000), nhượng cho Trung Quốc một số phần đất biên giới phía Bắc và vùng biển thuộc Vịnh Bắc Việt, qua bài viết Hãy Cảnh Giác Bắc Triều mà anh đã viết từ tháng 10 năm 2001. Vào lúc đó, bài viết của anh Lê Chí Quang được coi là quả bom nổ đầu tiên, phanh phui những vụ nhượng đất nhượng biển của lãnh đạo cao cấp đảng Cộng sản Việt Nam cho Trung Quốc. Bài viết này đã làm rúng động nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, khiến cho Ban bí thư phải ra văn thư giải thích nhưng không thể nào hóa giải sự phẫn uất của dư luận kéo dài đến hôm nay.
Bảy năm sau, ngày 13 tháng 6 năm 2009, Luật sư Lê Công Định bị Tổng cục an ninh điều tra thuộc Bộ công an Cộng sản Việt Nam bắt giữ tại nhà và đưa ra văn phòng khám xét, cũng bị cáo buộc như Luật gia Lê Chí Quang là đã vi phạm điều 88 luật hình sự. Mặc dù không đưa ra được một tài liệu nào chứng minh Luật sư Lê Công Định vi phạm điều 88 Luật hình sự, nhưng Bộ công an lại huy động toàn bộ báo chí, truyền thanh và truyền hình của chế độ để loan tải rằng Luật sư Lê Công Định đang có âm mưu làm loạn . Thậm chí họ còn dựng ra những tội danh tưởng tượng như soạn thảo Hiến pháp, thành lập đảng Lao động và Dân chủ để cố gán ghép thêm là Luật sư Lê Công Định có “âm mưu lật đổ nhà nước Cộng sản Việt Nam”.
Điều mâu thuẫn là Luật sư Lê Công Định bị công an Sài Gòn bắt sau anh Trần Huỳnh Duy Thức đến hơn 2 tuần lễ – người cũng bị cáo buộc là vi phạm điều 88 luật hình sự – vào ngày 24 tháng 5, nhưng toàn bộ hệ thống báo chí của Cộng sản Việt Nam không hề đá động gì đến các vi phạm của anh Trần Huỳnh Duy Thức, trong khi lại dồn công sức vào việc tô vẽ cái gọi là những vi phạm của Luật sư Lê Công Định, kể cả việc cho công bố toàn bộ hình ảnh ghi lại cuộc bắt giữ Luật sư Định tại nhà, văn phòng và cả lúc ra xe chở về trại giam. Không những thế, chiều ngày 17 tháng 6, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong phần phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập học viện ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã phản bác lại sự lên tiếng của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về việc bắt giữ Luật sư Lê Công Định và đã quỷ biện rằng Việt Nam là xứ sở có nhân quyền nhất (sic).
Trên mặt nổi, Cộng sản Việt Nam đang cố cho dư luận thấy rằng việc bộ công an bắt giữ Luật sư Lê Công Định là vì đã có những bài viết ‘tuyên truyền chống phá nhà nước”, như họ đã từng cáo buộc Luật gia Lê Chí Quang. Tuy nhiên, theo nhiều tin tức cho thấy là bộ công an đang thi hành chỉ thị của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam nhằm triệt hạ những người đang tố cáo sự đi đêm của họ với Trung Quốc. Bài viết gần đây nhất của Luật sư Lê Công Định: “Đọc sử để nhìn nhận hôm nay” và dự tính kiện Trung Quốc về việc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ở Biển Đông qua sự tiết lộ của Luật sư Lê Quốc Quân, đã cho thấy là các hoạt động của Luật sư Lê Công Định không chỉ dừng lại ở việc ký tên vào bản kiến nghị của những nhà trí thức chống việc hợp tác với Trung Quốc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mà còn muốn phanh phui những đường dây trong Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã nhận tiền của Bắc Kinh để đưa dân tộc và đất nước ta trong vòng kiềm hãm của Bắc phương.
Ngoài ra, Đài Chân Trời Mới loan tải bản tin liên quan đến việc một số doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ đang lưu truyền tại Hà Nội một số tin tức về việc gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận hơn 150 triệu Mỹ Kim từ nhà cầm quyền Trung Quốc để đổi lấy sự đồng ý cho Tổng công ty Chalco của Trung Quốc khai thác Bauxite tại Việt Nam đã giúp cho dư luận thấy rõ hơn lý do vì sao Luật sư Lê Công Định bị bắt như Luật gia Lê Chí Quang bị bắt cách nay 7 năm.
Những phanh phui về mối quan hệ tiền bạc giữa Trung Quốc với thành phần lãnh đạo Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã giải thích thêm lý do vì sao Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã chỉ lên tiếng yêu cầu (năn nỉ) lãnh đạo Bắc Kinh không nên cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển của Việt Nam khi Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển Đông trong vòng 3 tháng, kể từ đầu tháng 6 năm 2009. Thái độ khiếp nhược này của giới lãnh đạo Hà Nội đã khiến cho nhiều người Việt Nam – trong đó có Luật sư Lê Công Định bất mãn và phản kháng. Cái kẹt của bộ công an là không tìm đâu ra điều luật hình sự để bắt Luật sư Lê Công Định về tội chống lãnh đạo cấu kết với ngoại bang, nên đã phải cố sức thổi to những cáo buộc không có về Luật sư Định đã tuyên truyền chống phá nhà nước.
Vụ bắt giữ Luật sự Lê Công Định sẽ chỉ làm cho Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam lúng túng đối phó hơn trước làn sóng phẫn uất của công luận. Đồng thời qua vụ bắt giữ này có thể sẽ khởi động làn sóng bừng dậy của dân tộc Việt như Luật sư Lê Công Định đã viết trong bài Quyết Không Khiếp Nhược: “Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước, may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc”.
Lý Thái Hùng
Ngày 17 tháng 6 năm 2009
