2009/06/27

Nhân quyền kiểu gì?


Tối ngày 17 tháng 6 năm 2009, trên bản tin thời sự Đài truyền hình VTV1 của nhà nước cộng sản có phát hình về phóng sự Nguyễn Minh Triết đi thăm học viện ngoại giao, nhân buổi lễ kỷ niệm 60 năm thành lập học viện ngoại giao ngày 17/6/2009. Tại đây Nguyễn Minh Triết lớn giọng nói rằng VN là 1 nước rất nhân quyền, các nước khác chà đạp nhân quyền nhưng cậy tiền nhiều vu khống VN này nọ. Cũng theo lời của Nguyễn Minh Triết: “Cần phải đấu tranh nhiều hơn nữa trên mặt trận ngoại giao về lĩnh vực nhân quyền”. Và cũng ngay buổi phát hình đêm 17/6/2009 ở cuối phần tin trong nước, trước khi chuyển sang phần tin thế giới của VTV1, phát thanh viên Hoài Anh có đọc bản tin cho là: “Việc bắt giữ luật sư Lê Công Định là đúng pháp luật VN, cũng như các nước khác làm đúng trình tự pháp luật”.

Hai cái bản tin cùng ngày này thật là lố bịch và xảo trá!

Cái nhân quyền của Nguyễn Minh Triết là gì? Vậy mà trước đây trong chuyến công du ở Mỹ, trả lời phỏng vấn của CNN về tấm hình Linh mục Nguyễn Văn Lý bị 3 công an mặc đồng phục và thường phục bịt miệng trước vành móng ngựa, thì cũng chính miệng Nguyễn Minh Triết công bố việc làm này là sai. Vậy thì sắc màu nhân quyền mà Nguyễn Minh Triết lớn giọng ra làm sao? Nguyễn Minh Triết có dám đứng giữa cộng đồng người Việt hải ngoại tại bất cứ quốc gia nào ngòai VN tuyên bố lại những lời này chăng?

Cái nhân quyền mà Nguyễn Minh Triết vỗ ngực đó có hình thù là gì; công luận thế giới hễ nhắc đến VN là dè bỉu chế nhạo. Là hình ảnh cả ngàn công nhân bị bóc lột đi biểu tình đòi giới chủ tăng lương thì tay chân đàn em của Nguyễn Minh Triết ra tay sát hại những công nhân bần cùng.

Cái nhân quyền của ông Triết là ngàn dân oan mất đất đi đòi công lý bị bắt như là lùa heo lên những xe tồi tàn chở về địa phương để cuối cùng cũng quay lại Sài Gòn Hà Nội tìm công lý trong vô vọng.

Cái nhân quyền của ông Triết là hình ảnh những em bé thơ vị thành niên bị bắt làm nô lệ tình dục ở dọc biên giới Việt-Miên-Lào.

Cái nhân quyền của ông Triết là trăm ngàn người dân quê bị lừa xuất khẩu lao động sang xứ người theo kiểu đem con bỏ chợ, sống lay lắt hay đi cướp giựt nơi xứ người. Mà ngày nay hễ nghe nói đến người Việt là người ta tránh như tránh hủi.

Cái nhân quyền của ông Triết là ngày nay nhiều tôn giáo đi thưa kiện vì bị chính ông Triết và tập đòan tội ác Cộng sản cướp đất. Đi kiện đòi đất cũng khơng yên với lũ cướp ngày.

Cái nhân quyền của ông Triết là những phiên tòa với bản án được soạn sẵn, chủ tọa chỉ ra cầm đọc mà thôi, mặc kệ luật sư có cãi chày cãi cối; thẩm phán, hội thẩm ra tòa, kẻ thì ngủ gục, người thì ngồi ngáp và nhổ rấu.

Cái nhân quyền của ông Triết là cảnh khủng bố các lụât sư khi họ bào chữa cho các phiên tòa mang màu sắc chính trị.

Cái nhân quyền của ông Triết là quốc hội bù nhìn chưa họp đã biết “đồng thuận” là gì rồi.

Cái nhân quyền của ông Triết là những cuộc bầu cử mà đảng cử và ép dân đi bầu, tỷ lệ bao giờ cũng 99% kết quả xạo.

Cái nhân quyền của ông Triết là sắc màu lý lịch đẩy biết bao nhân tài vào chỗ chết theo kiểu Khmer Đỏ, là những đợt tù cải tạo, là đổi tiền, là đánh tư sản, cướp nhà cướp vàng của nhiều người ân nhân của cộng sản.

Cái nhân quyền của ông Triết là cảnh những chiếc tàu vượt biên bị bắt lột sạch tài sản, đàn bà thì bị hiếp, trẻ con thì thả xuống biển làm mồi cho cá.

Cái nhân quyền của ông Triết mà báo chí phải đi lề bên phải.

Cái nhân quyền của ông Triết là lợi ích quốc gia và giống nòi phải đặt dưới lợi ích của đảng cướp.

Bảng thành tích về nhân quyền của ông Triết sẽ còn dài không bút mực nào tả xiết. Để rồi ngày nay, đất nước đang trên bờ vực lâm nguy, ngư dân không dám ra biển đánh cá, và người dân tộc trên Tây Nguyên không còn đất sống. Cái giả dối và tội ác lan tràn, đạo đức xã hội xuống cấp theo cái đà nhân quyền mẫu mực kiểu của ông Triết.

Và chuyện bắt luật sư lê Công Định là minh chứng về khuôn mẫu nhân quyền “đúng luật” của ông Triết. Khổ cho dân Việt nam vì đó là LUẬT RỪNG.

LýNam Bình

2009/06/24

Đối Đầu Bất Bạo Động: Nhìn Từ Biến Cố Iran


Hàng trăm ngàn người tham gia vào những cuộc biểu tình chống bầu cử gian lận đang xảy ra tại Thủ đô Tehran, Iran từ ngày 13 tháng 6 năm 2009 cho đến nay, làm cho người ta liên tưởng đến hai cuộc đấu tranh chống bầu cử gian lận đã từng xảy ra một cách ngoạn mục tại Cộng hòa Serbia vào năm 2000 và Cộng Hòa Georgia vào năm 2004, đưa đến sự sụp đổ của các chế độ độc tài tại đây.

Làn sóng biểu tình tại Serbia đã bộc phát ngay trong đêm 23 tháng 9 năm 2000, khi phe chính quyền muốn đánh tráo kết quả bầu cử để Tổng thống Milosevic tiếp tục nắm quyền thêm một nhiệm kỳ nữa, trong khi kết quả kiểm phiếu cho thấy là ứng cử viên đối lập Vojislav Kostunica đã thắng lớn, bỏ xa nhà độc tài Milosevic. Sau hơn 10 ngày ra lệnh cho công an đàn áp những người biểu tình, trước sức ép của dư luận quá mạnh, với những cuộc biểu tình, đình công, lãng công, bất phục tùng dân sự đã làm tê liệt toàn thể xã hội, Milosevic đã phải tuyên bố thua cuộc, chấp nhận kết quả chiến thắng của phe đối lập. Người ta gọi đây là cuộc cách mạng màu đen vì lực lượng đối lập đã dùng lá cờ của Đoàn Thanh Niên Sinh Viên Phản Kháng (Optor) làm điểm tựa tụ tập; lá cờ gồm màu đen và nắm tay đấm bằng màu trắng.

Bốn năm sau, làn sóng biểu tình chống bầu cử Tổng thống gian lận được lập lại tại Cộng hòa Ukraine bắt đầu từ ngày 24 tháng 11 năm 2004, khi hàng trăm ngàn người ủng hộ ứng cử viên Tổng thống Viktor Yushchenko túa ra đường chống lại kết quả bầu cử, do phe thân chính phủ công bố rằng đương kim Thủ tướng Viktor Yunukovich của Tổng thống mãn nhiệm Koutcher ủng hộ thắng cử, trong khi phe đối lập thì cho ứng cử viên Yushchenko dẫn trước Thủ tướng Yunukovich ít nhất là 5% số phiếu bầu. Phe đối lập đã vận dụng mọi phương pháp của đấu tranh bất bạo động, đặc biệt là kêu gọi toàn quốc lãng công, biểu tình ngồi (sit-in) và bất phục tùng dân sự để yêu cầu Tối Cao Pháp Viện không công nhận kết quả bầu cử và cho kiểm lại phiếu. Phía chính quyền thì tìm cách vận động tối cáo pháp viện trì hoãn việc can thiệp trong khi tung công an đàn áp phe đối lập. Nhưng sau 2 tuần lễ đấu tranh của hàng trăm ngàn người – bất chấp những cơn lạnh khắc nghiệt, toàn bộ xã hội Ukraine bị tê liệt – khiến cho Tối Cao Pháp Viện phải bắt kiểm lại phiếu, và lần này ứng cử viên đối lập Yushchenko đạt kết quả quá bán, đắc cử Tổng thống Ukraine. Người ta gọi đây là cuộc cách mạng Cam vì phe đối lập đã dùng khăn và áo chống lạnh màu Cam để làm biểu tượng tập họp trong suốt hai tuần lễ tụ tập đấu tranh tại trụ sở quốc hội và Tối cao pháp viện.

Những cuộc biểu tình tại Tehran, dường như đã được phe đối lập chuẩn bị từ trước vì họ đã nghi là có sự gian lận của đương kim Tổng thống Mahmound Ahmadinejad với sự thông đồng của bộ máy mật vụ do Bộ nội vụ điều khiển. Bộ nội vụ cũng là nơi tổ chức, điều hành và kiểm phiếu của cuộc bầu cử. Từ một tháng trước ngày bầu cử, phe đối lập đã tung ra khẩu hiệu “Ahmadi – bye, bye” để vận động dư luận. Mặc dù cuộc bầu cử Tổng thống Iran có đến hơn 400 ứng cử viên nhưng có ba ứng cử viên sáng giá là 1/ Đương kiêm Tổng thống Ahmadinejad, người được coi là chống Mỹ và chống Do Thái một cách triệt để; 2/ Cựu thủ tướng Mir Hossein Moussavi có khuynh hướng ôn hòa, thân Tây phương; 3/ Nhà cải cách Mehdi Karroubi, từng ra tranh cử Tổng thống vào năm 2005. Trong ba ứng cử viên nói trên, cựu thủ tướng Hossein Moussavi là người có nhiều triển vọng thắng cử nhất vì đa số cử tri – đặc biệt là giới trẻ và phụ nữ – muốn Iran thay đổi theo đường lối mở cửa thân Tây phương và chấm dứt sự khống chế của khuynh hướng thần quyền (theocratic).

Từ năm 1979 khi ông đạo Khomeini lãnh đạo cuộc cách mạng Hồi Giáo lật đổ chế độ Shah Hoàng thân Mỹ, Iran đã bị khép kín trong vòng xích của một chế độ cực quyền, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Hội Đồng Giám Hộ (Hội đồng tối cao của Hồi Giáo Iran) gồm 12 Giáo sĩ của Hồi Giáo. Hội đồng này có quyền hành tuyệt đối, thống lĩnh quân đội, tòa án, hệ thống truyền thông, kể cả việc bổ nhiệm nhân sự vào những trách vụ lãnh đạo trong các Hội đồng quốc gia. Nhưng vào lúc đó, để tạo một hình ảnh dân chủ cho Iran, ông đạo Khomeini đã lập ra thể chế Cộng Hòa dựa trên hai chân vạc: hệ thống dân chủ và hệ thống thần quyền. Hệ thống dân chủ cho phép tổ chức các cuộc bầu cử quốc hội, tổng thống và những đơn vị hành chánh địa phương. Tuy nhiên, những trách nhiệm dân cử trong các cơ chế quốc hội, tổng thống… đứng dưới thẩm quyền quyết định của các Giáo sĩ nằm trong hệ thống thần quyền (Hồi Giáo) ở các cơ chế – giống như một loại chính ủy trong cơ cấu của các đảng Cộng sản.

Điều mong muốn của phe đối lập tại Iran là mở cửa thân thiện với Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ, và quan trọng hơn là giảm thiểu những sự chi phối của các Giáo sĩ trong Hội Đồng Giám Hộ hiện do đạo sĩ Ayatollah Ali Khamenei lãnh đạo lên các bước cải tổ chính trị tại Iran. Phe đối lập – đa số là thanh niên, trí thức, phụ nữ – đều muốn Iran được tự do hơn và trở thành một thể chế Cộng hòa thật sự, dựa trên nền tảng Dân chủ là chính chứ không nằm dưới hệ thống Hồi Giáo. Để tạo cuộc thay đổi này, phe đối lập, đặc biệt là ứng cử viên Mir Hossein Moussavi, đã tận dụng triệt để những phương cách vận động bầu cử vừa qua của Tổng thống Obama và một số nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động.

Về đối tượng, Mir Hossein Moussavi đã nhắm vào ba đối tượng chính: Phụ nữ, sinh viên và giới trung lưu tương đối có đời sống ổn định sau 30 năm biến đổi của cuộc cách mạng Hồi Giáo. Vì nhắm chính vào đối tượng phụ nữ nên ứng cử viên Moussavi đã được đông đảo phụ nữ ủng hộ nhiệt thành; họ đã trở thành lực lượng quan trọng trong các cuộc biểu tình chống lại đương kim Tổng thống Ahmadinejad.

Về phương tiện, Moussavi đã áp dụng phương cách của Tổng Thống Obama là khai thác tối đa mạng truyền thông để loan tải các quan điểm và kích động sự tò mò và hăng say của giới trẻ qua các diễn đàn SMS, Facebook. Mới đây phe đối lập tại Iran đã sử dụng phương tiện thông tin mới có tên là Twitter, để chuyển rất nhiều nội dung kêu gọi mọi người xuống đường chống chính quyền, trong lúc Tổng thống Ahmadiejad cho cắt toàn bộ Internet và kiểm soát gắt gao hệ thống thông tin. Chính nhờ Twitter (lời nhắn líu lo – ngắn, gọn) trong kỳ biểu tình vừa qua mà người ta đã có thể tường thuật tin tức nhanh chóng và giúp huy động đông đảo người tham gia trong một thời gian ngắn kêu gọi. Hơn thế nữa Twitter trở thành nguồn thông tin quan trọng cho dân chúng Iran trong mấy ngày qua, vì các đài CNN và BBC bị nhà nước kiểm duyệt.

Về phương diện chiến thuật, Moussavi đã tung ra hai mặt trận: 1/ Tẩy chay kết quả bầu cử vì gian lận và tuyên bố sẵn sàng tham gia cuộc bầu cử vòng II. 2/ Dùng áp lực quần chúng để buộc Hội Đồng Giám Hộ đứng về phía đối lập hoặc đứng ngoài cuộc đấu tranh. Hiện nay, mặt trận chống gian lận bầu cử đã lên cao điểm trong khi phe đối lập thất bại trong việc tranh thủ Hội Đồng Giám Hộ Hồi Giáo vì ông đạo Ali Khamenei lại đứng về phía chính quyền kêu gọi ủng hộ Tổng thống Ahmadiejad và cho là cuộc bầu cử không gian lận. Ngoài ra, để tránh những đòn trấn áp dã man của lực lượng công an Hồi Giáo, phe đối lập đã thay vì tập trung đông người, tổ chức thành những cuộc biểu tình nhỏ tràn ngập ở nhiều nơi, đồng thời sử dụng xe hơi vừa chạy vừa bóp còi và bật sáng đèn trong các khu phố nhằm gây trở ngại giao thông.

Hiện nay, tình hình vận động của phe đối lập có phần suy giảm khi Tổng thống Ahmadiejad cho một số sinh viên quá khích tổ chức những cuộc biểu tình trước sứ quan Anh và Hoa Kỳ, để phản đối sự can thiệp của Tây phương vào nội tình Iran. Mục tiêu của Ahmadiejad là nhằm chuyển hướng dư luận Iran từ chống bầu cử gian lận sang chống sự nhúng tay của các thế lực phương Tây. Đây là một đòn khá thâm hiểm của ông Ahmadiejad nhằm rút bớt sự phẫn kích của dân chúng về sự gian lận bầu cử. Chiều hướng chung của tình hình hiện nay là phe chính quyền vì có được sự ủng hộ của Hội Đồng Giám Hộ nên nhiều phần sẽ không nhượng bộ các đòi hỏi của phe đối lập là tổ chức lại cuộc bầu cử Tổng thống; nhưng qua các cuộc biểu tình của phe đối lập Iran – với những kỹ thuật và phương tiện Internet mà họ sử dụng trong các cuộc đấu tranh lần này – đã giúp khai phá ra thêm những phương pháp đấu tranh bất bạo động mới cho nhân loại trong tương lai.

Lý Thái Hùng
23 Tháng 6 Năm 2009

2009/06/20

Tại sao Nhà Cầm Quyền CSVN phải bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định

Hoàng Cơ Định



Có người cho rằng đây là một đòn “đánh phủ đầu” hoặc “đánh lạc hướng”, nhưng thử hỏi đánh phủ đầu ai, đánh lạc hướng ai và tại sao lại phải bắt khẩn cấp? Muốn có lời giải đáp, chúng ta chỉ việc trả lời các câu hỏi:

Tại sao nhà cầm quyền CSVN đã bắt tù Ls Lê Chí Quang, Blogger Điếu Cầy, đóng cửa báo Du Lịch … Những người này chẳng có âm mưu gì để lật đổ “chính quyền cách mạng”, nhưng họ có một điểm chung là cùng chống hành động xâm lăng của Trung Quốc.

Câu hỏi thứ nhì là: Tại sao báo Hà Nội Mới ca ngợi tên xâm lược Hứa Thế Hữu, kẻ đã tàn sát biết bao sinh mạng người dân Việt Nam khi quân Tàu xâm lăng nước ta vào năm 1979 mà lại được khen thưởng, Bộ Công Thương đã để Trung Quốc ngang nhiên sử dụng trang Web của Bộ để tuyên truyền Biển Đông là lãnh hải của chúng mà không có nhân viên nào bị trừng phạt… Những kẻ này có đặc tính chung là chúng cùng phục vụ quan thầy Trung Quốc.

Vậy thì đường lối của lãnh đạo CSVN hiện nay là phục vụ Trung Quốc. Ai đụng tới Chủ thì Tay Sai không tha! Vì vậy mà gần đây, khi tầu Ngư Chính của Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm hải phận VN, rượt đuổi, không cho ngư dân VN đánh cá trên vùng biển của tổ tiên VN, thì nhà cầm quyền CSVN chỉ biết a dua theo giặc bằng cách phụ họa kêu gọi ngư dân Việt Nam hãy tránh xa các vùng biển Trung Quốc chiếm đoạt… Trong khi đó Ls Lê Công Định, người đã từng bảo vệ ngư dân đồng bằng Sông Cửu Long trong vụ kiện xuất cảng cá ba sa trước đây, lại chuẩn bị đưa vụ giặc Tàu bách hại ngư dân Việt Nam tại Biển Đông ra trước Toà Án Quốc Tế, thế là ông bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh “bắt khẩn cấp”.

Về lý do chính thức của vụ “bắt khẩn cấp” này, viên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Vũ Hải Triều đã cho biết là vì LS Lê Công Định “đã lợi dụng việc bào chữa cho số đối tượng chống đối (Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải), thông qua các luận cứ bào chữa để thực hiện ý đồ biến các phiên tòa thành diễn đàn tuyên truyền chống chế độ, xuyên tạc Hiến pháp, pháp luật, lên án chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.” Các vụ án mà Vũ Hải Triều viện dẫn đều đã xẩy ra từ lâu. Nếu gọi đó là tội thì sao phải để hơn 1 năm sau mới cho lệnh “bắt khẩn cấp”? Chẳng lẽ quan chức CSVN chậm hiểu đến thế sao? Đây quả là điều chỉ có người CSVN nói cho người CSVN nghe mà thôi.

Một tang vật khác được viện dẫn trên báo chí Đảng, như bằng cớ chống lại đảng CSVN của Ls Lê Công Định là hình bìa cuốn sách “Từ Độc Tài tới Dân Chủ” trong computer của ông Định. Thế ra đảng CSVN đã thành thực khai báo rằng Đảng chỉ là một tập đoàn độc tài. Và hô hào dân chủ tức là “chống Đảng”! Điều đáng xấu hổ là đảng CSVN không phải chỉ bịt mắt người dân VN, mà họ còn tự bịt mắt chính họ. Cuốn “Từ Độc Tài tới Dân Chủ”của Gene Sharp là một tài liệu công khai, đã được dịch ra 22 thứ tiếng và bản Việt ngữ do đảng Việt Tân thực hiện đã được phổ biến trên các mạng thông tin điện tử gần 3 năm qua.

Ngoài cuốn sách dùng làm tang vật buộc tội, guồng máy cầm quyền CSVN còn căn cứ vào các bản điều lệ lập Đảng Lao Động và dự thảo Hiến Pháp tìm thấy trong computer của Ls Định như những tang vật khác! Ở thế kỷ 21 này, trong computer của một người trí thức thiếu gì những tài liệu như vậy. Huống chi đây lại là computer của một ông luật sư hành nghề. Chắc chắn trong computer của Ls Định còn hàng chục, hàng trăm bản điều lệ hội đoàn, công ty. Nếu dùng lối suy diễn của CSVN thì ông Định cũng là thành viên của hết cả những hội đoàn và công ty đó hay sao? Cũng theo lối suy diễn này thì những sinh viên hay các nhà nghiên cứu về Mác – Lê Nin hay Mao Trạch Đông đều là ngưới Cộng Sản hay sao?

Trong cuốn “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” Nhạc sĩ Tô Hải có kể rằng, hồi xưa đã có lần ông suýt chết chỉ vì ông có tờ giấy khai sanh bằng tiếng Pháp, bị người của Nhà Nước CS hồi đó cho là tay sai của Tây. May mà có một ông lãnh đạo đã từng là lính khố xanh nên nhận ra đó là tờ giấy khai sanh. Vì vậy mà nhạc sĩ Tô Hải mới thoát! Hoá ra nền vô học chuyên chính của đảng CSVN vẫn còn thấm nhuần cho tới ngày nay. Trí thức mà bị bạc đãi và coi khinh như vậy làm gì hỏi sao quốc gia Việt Nam không tụt hậu?

Trở lại lệnh bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định, nó khẩn cấp không phải vì những lý lẽ tào lao do viên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Vũ Hải Triều đã nêu lên; ông Định bị bắt khẩn cấp vì ông sắp đụng vào Trung Quốc, vào chế độ quan thầy của nhóm lãnh đạo CSVN. Dụng tâm răn đe hay đánh lạc hướng không rõ có nằm trong ý đồ của đảng CSVN hay không, nhưng nếu có thì cũng chẳng răn đe được ai, vì sự chống đối lại nhà nước không phải là việc làm được khơi mào bởi giới trí thức. Sự việc người Nhà Nước CS cướp đoạt tài sản của người dân, tạo ra hàng trăm ngàn dân oan là sự thật hiển nhiên và phổ biến. Việc nhà Nước mở cửa cho Trung Quốc vào tàn phá Tây Nguyên để khai thác quặng nhôm mang về Tàu, việc Nhà Nước làm ngơ để Trung Quốc dành nơi đánh cá của ngư dân VN là những sự thật không thể chối cãi… Vì vậy mà bắt Ls Lê Công Định sẽ không răn đe được ai, và cũng chẳng làm dân Việt Nam sao lãng những vấn đề sống còn của dân tộc.

Trước đây, sự việc Nhà Nước CSVN bắt giam LM Nguyễn Văn Lý có thể đã tạm giải quyết được sự chống đối của giáo dân Nguyệt Biều. Nhưng, bản chất cuộc đấu tranh do LM Nguyễn Văn Lý khởi xướng là đấu tranh cho công bằng và công lý, nên những lý tưởng đó không chỉ giới hạn trong giáo xứ Nguyệt Biều, mà đã là yếu tố để khối đồng bào Công giáo, mười lần đông đảo hơn tại Thái Hà, tranh đấu một cách quyết tâm và mãnh liệt hơn. Trong tuần lễ vừa qua, người Việt trong và ngoài nước đã dành nhiều thì giờ theo dõi việc bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định. Cuộc tranh đấu của đồng bào cho Ls Định sẽ tiếp diễn, không những tiếp diễn mà còn là cơ hội để các Ls Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài không bị quên lãng, cho tới khi họ được phóng thích, như trường hợp Ls Lê Chí Quang, Bs Phạm Hồng Sơn, Ls Lê Quốc Quân và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Điều chắc chắn là những cuộc tranh đấu này không thay thế cho nỗ lực bảo vệ Tây Nguyên và chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông.

Hoàng Cơ Định
hoangcodinh@jps.net

2009/06/19

Bản Lên Tiếng Về Thủ Thuật Đàn Áp Của Nhà Cầm Quyền CSVN Đối Với Luật Sư Lê Công Định




Trước làn sóng phản đối ngày một thêm quyết liệt của nhân dân Việt Nam về hiểm họa khai thác bô-xít Tây Nguyên và sự khiếp nhược của Hà Nội đối với Bắc Kinh trên biển Đông, lãnh đạo đảng CSVN đang tìm mọi cách răn đe để bịt miệng người dân. Trong ý đồ đó, công an đã được lệnh “bắt khẩn cấp” luật sư Lê Công Định tại Sài Gòn với tội danh mơ hồ của điều 88 Luật Hình Sự: Tuyên truyền chống nhà nước. Sau đó, liên tục trên các báo, đài của chế độ, luật sư Lê Công Định bị buộc tội với đủ loại dữ kiện liên quan đến nhiều tổ chức, bao gồm cả Đảng Việt Tân. Và vào ngày 18/6/2009, chế độ tung ra tin tức và hình ảnh của cái gọi là luật sư Lê Công Định nhận tội và xin khoan hồng.

Trước sự kiện trên, Đảng Việt Tân xin trình bày một số nhận định như sau:

- CSVN dùng Điều 88 Luật Hình Sự, Tuyên truyền chống nhà nước, để buộc tội luật sư Lê Công Định. Đây là một điều luật mơ hồ được CSVN dùng làm phương tiện để duy trì độc tài, bóp nghẹt những tiếng nói ôn hòa tranh đấu cho dân chủ. Đối với thế giới và Công Ước về Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, việc thay đổi chính quyền bằng phương pháp ôn hòa, bất bạo động là quyền chính trị của tất cả mọi người. Chỉ có lãnh đạo CSVN mới sợ hãi sự thay đổi ôn hòa và lợi dụng luật pháp để đàn áp những người không đồng quan điểm trong đó có luật sư Lê Công Định

- Các tài liệu huấn luyện về Đấu Tranh Bất Bạo Động do Đảng Việt Tân thực hiện mà nhà cầm quyền tìm thấy khi lục soát nhà luật sư Lê Công Định và đưa ra như tang chứng, đều chỉ cho thấy lãnh đạo đảng CSVN đang đi ngược lại xu thế văn minh của nhân loại, và thực sự lo âu các phương tiện bạo hành để cai trị của họ sẽ bị vô hiệu hóa nếu đông đảo quần chúng cùng đứng lên tranh đấu bất bạo động. Đặc biệt, tập sách Từ Độc Tài Đến Dân Chủ mà báo chí của chế độ chụp hình là một tài liệu công khai, mọi người đều có thể tải xuống từ trang nhà www.viettan.org từ năm 2006.

- Chính nhà cầm quyền CSVN vi phạm đủ loại luật lệ báo chí và hình sự khi điều động toàn bộ guồng máy tuyên truyền của chế độ vào việc bôi nhọ, dựng chuyện, vu cáo, và kết tội luật sư Lê Công Định mà chẳng cần chờ phán xét của toà án nào, dù là tòa do đảng CSVN kiểm soát hoàn toàn.

- Trong hệ thống pháp lý đầy tính khủng bố và hoàn toàn vắng bóng các tiêu chuẩn tối thiểu về công lý như vậy, mọi lời khai, lời nhận tội, v.v… của nạn nhân mà chế độ tung ra đều phải xem là bằng chứng ép cung và hoàn toàn KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ.

Trước những thủ đoạn vừa trấn áp vừa đánh lạc hướng dư luận của nhà cầm quyền CSVN, đảng Việt Tân kính đề nghị cùng quí hội đoàn và toàn thể đồng bào, chúng ta:

- Không để lãnh đạo đảng CSVN thành công trong ý định đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận ra khỏi các hiểm họa đang bao trùm đất nước, đó là hiểm họa khai thác bô-xít và mất dần chủ quyền tại Tây Nguyên; hiểm hoạ mất đảo, mất khoáng sản, và mất hải phận trên biển Đông vào tay Bắc Kinh.

- Làm tất cả những gì có thể để bảo vệ và tranh đấu cho luật sư Lê Công Định, cũng như các tù nhân chính trị khác đang bị giam giữ hay vừa mới bị bắt.

- Gia tăng hơn nữa việc vạch trần trước dân tộc thái độ trái ngược của Bộ Chính Trị đảng CSVN và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: càng khiếp nhược đối với Bắc Kinh thì càng hung hãn đối với dân tộc.

****

Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-0845

2009/06/18

Từ Lê Chí Quang Đến Lê Công Định

Lý Thái Hùng



Cách đây 7 năm, Luật gia Lê Chí Quang đã bị công an Hà Nội bắt giữ tại quán cà phê Internet vì bị cáo buộc là vi phạm điều 88 luật hình sự (lưu hành những tài liệu chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa) vào ngày 21 tháng 2 năm 2002 và bị đưa về giam tại nhà tù B14 thuộc Tỉnh Hà Đông. Nửa năm sau, ngày 8 tháng 11, Cộng sản Việt Nam đã đưa anh Lê Chí Quang ra tòa, không có luật sư biện hộ, không cho thân nhân tham dự. Phiên tòa diễn ra không quá 3 tiếng đồng hồ và anh đã bị kết án 4 năm tù về tội ‘tuyên truyền chống lại nhà nước”. Nhưng do những áp lực mạnh mẽ của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại và của các tổ chức nhân quyền quốc tế, trung tuần tháng 6 năm 2004, Cộng sản Việt Nam đã phải thả luật gia Lê Chí Quang trước thời hạn, vào ngày 14 tháng 6 năm 2004, sau hơn 2 năm giam giữ.

Những thủ đoạn trấn áp của Cộng sản Việt Nam đối với anh Lê Chí Quang nói trên, chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là trả thù anh đã can đảm tố cáo ông Lê Khả Phiêu, lúc đó là Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh bí mật ký kết hai văn kiện: Hiệp định biên giới Việt Trung (1999) và Hiệp định phân ranh vịnh Bắc Việt (2000), nhượng cho Trung Quốc một số phần đất biên giới phía Bắc và vùng biển thuộc Vịnh Bắc Việt, qua bài viết Hãy Cảnh Giác Bắc Triều mà anh đã viết từ tháng 10 năm 2001. Vào lúc đó, bài viết của anh Lê Chí Quang được coi là quả bom nổ đầu tiên, phanh phui những vụ nhượng đất nhượng biển của lãnh đạo cao cấp đảng Cộng sản Việt Nam cho Trung Quốc. Bài viết này đã làm rúng động nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, khiến cho Ban bí thư phải ra văn thư giải thích nhưng không thể nào hóa giải sự phẫn uất của dư luận kéo dài đến hôm nay.

Bảy năm sau, ngày 13 tháng 6 năm 2009, Luật sư Lê Công Định bị Tổng cục an ninh điều tra thuộc Bộ công an Cộng sản Việt Nam bắt giữ tại nhà và đưa ra văn phòng khám xét, cũng bị cáo buộc như Luật gia Lê Chí Quang là đã vi phạm điều 88 luật hình sự. Mặc dù không đưa ra được một tài liệu nào chứng minh Luật sư Lê Công Định vi phạm điều 88 Luật hình sự, nhưng Bộ công an lại huy động toàn bộ báo chí, truyền thanh và truyền hình của chế độ để loan tải rằng Luật sư Lê Công Định đang có âm mưu làm loạn . Thậm chí họ còn dựng ra những tội danh tưởng tượng như soạn thảo Hiến pháp, thành lập đảng Lao động và Dân chủ để cố gán ghép thêm là Luật sư Lê Công Định có “âm mưu lật đổ nhà nước Cộng sản Việt Nam”.

Điều mâu thuẫn là Luật sư Lê Công Định bị công an Sài Gòn bắt sau anh Trần Huỳnh Duy Thức đến hơn 2 tuần lễ – người cũng bị cáo buộc là vi phạm điều 88 luật hình sự – vào ngày 24 tháng 5, nhưng toàn bộ hệ thống báo chí của Cộng sản Việt Nam không hề đá động gì đến các vi phạm của anh Trần Huỳnh Duy Thức, trong khi lại dồn công sức vào việc tô vẽ cái gọi là những vi phạm của Luật sư Lê Công Định, kể cả việc cho công bố toàn bộ hình ảnh ghi lại cuộc bắt giữ Luật sư Định tại nhà, văn phòng và cả lúc ra xe chở về trại giam. Không những thế, chiều ngày 17 tháng 6, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong phần phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập học viện ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã phản bác lại sự lên tiếng của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về việc bắt giữ Luật sư Lê Công Định và đã quỷ biện rằng Việt Nam là xứ sở có nhân quyền nhất (sic).

Trên mặt nổi, Cộng sản Việt Nam đang cố cho dư luận thấy rằng việc bộ công an bắt giữ Luật sư Lê Công Định là vì đã có những bài viết ‘tuyên truyền chống phá nhà nước”, như họ đã từng cáo buộc Luật gia Lê Chí Quang. Tuy nhiên, theo nhiều tin tức cho thấy là bộ công an đang thi hành chỉ thị của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam nhằm triệt hạ những người đang tố cáo sự đi đêm của họ với Trung Quốc. Bài viết gần đây nhất của Luật sư Lê Công Định: “Đọc sử để nhìn nhận hôm nay” và dự tính kiện Trung Quốc về việc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ở Biển Đông qua sự tiết lộ của Luật sư Lê Quốc Quân, đã cho thấy là các hoạt động của Luật sư Lê Công Định không chỉ dừng lại ở việc ký tên vào bản kiến nghị của những nhà trí thức chống việc hợp tác với Trung Quốc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mà còn muốn phanh phui những đường dây trong Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã nhận tiền của Bắc Kinh để đưa dân tộc và đất nước ta trong vòng kiềm hãm của Bắc phương.

Ngoài ra, Đài Chân Trời Mới loan tải bản tin liên quan đến việc một số doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ đang lưu truyền tại Hà Nội một số tin tức về việc gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận hơn 150 triệu Mỹ Kim từ nhà cầm quyền Trung Quốc để đổi lấy sự đồng ý cho Tổng công ty Chalco của Trung Quốc khai thác Bauxite tại Việt Nam đã giúp cho dư luận thấy rõ hơn lý do vì sao Luật sư Lê Công Định bị bắt như Luật gia Lê Chí Quang bị bắt cách nay 7 năm.

Những phanh phui về mối quan hệ tiền bạc giữa Trung Quốc với thành phần lãnh đạo Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã giải thích thêm lý do vì sao Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã chỉ lên tiếng yêu cầu (năn nỉ) lãnh đạo Bắc Kinh không nên cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển của Việt Nam khi Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển Đông trong vòng 3 tháng, kể từ đầu tháng 6 năm 2009. Thái độ khiếp nhược này của giới lãnh đạo Hà Nội đã khiến cho nhiều người Việt Nam – trong đó có Luật sư Lê Công Định bất mãn và phản kháng. Cái kẹt của bộ công an là không tìm đâu ra điều luật hình sự để bắt Luật sư Lê Công Định về tội chống lãnh đạo cấu kết với ngoại bang, nên đã phải cố sức thổi to những cáo buộc không có về Luật sư Định đã tuyên truyền chống phá nhà nước.

Vụ bắt giữ Luật sự Lê Công Định sẽ chỉ làm cho Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam lúng túng đối phó hơn trước làn sóng phẫn uất của công luận. Đồng thời qua vụ bắt giữ này có thể sẽ khởi động làn sóng bừng dậy của dân tộc Việt như Luật sư Lê Công Định đã viết trong bài Quyết Không Khiếp Nhược: “Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước, may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc”.

Lý Thái Hùng
Ngày 17 tháng 6 năm 2009

2009/05/30

Sách Trắng — Vì quá ít ý

Vũ Thạch




Ngày 8 tháng 5 năm 2009, đến hạn nhà cầm quyền Việt Nam phải ra trước Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc để điều trần về tình hình tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam. Để chuẩn bị dư luận cho việc này, hai tuần trước đó Nhà Nước CSVN đã cho phát hành một tài liệu với tựa đề “Sách Trắng về Nhân Quyền tại Việt Nam”.

Chữ Sách Trắng, hay Bạch Thư, được thế giới quen dùng với hàm ý tài liệu này sẽ nói thật và nói hết những dữ kiện liên hệ đến một sự việc lớn. Có lẽ vì ấn tượng này mà Bộ Ngoại Giao CSVN, tác giả trực tiếp của tài liệu, đã tung ra hơn 16 000 chữ, trên 45 trang giấy, với 6 bảng và biểu đồ, 4 chương chính và ít là 15 tiểu mục.

Một điểm khá mới lạ của Sách Trắng này là toàn bộ tài liệu không hề đề cập đến vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam. Mặc dù tại Việt Nam ngày nay, quyền lãnh đạo được ghi vào hiến pháp là vĩnh viễn thuộc về Đảng và không chia với ai khác; mọi chính sách quốc gia đều do Bộ Chính Trị ĐCSVN quyết định; mọi phương tiện quốc gia đều là công cụ của Đảng; hay nói cách khác, Đảng kiểm soát và chi phối mọi mặt sinh hoạt trong xã hội Việt Nam. Thế mà “Sách Trắng về Nhân Quyền” lại bỏ quên vai trò của Đảng trong việc thực thi nhân quyền tại Việt Nam!

Nhưng ngoài điều lạ nêu trên, sau khi bỏ công đọc hết tập tài liệu này, không chỉ người Việt Nam, mà cả đại diện các chính phủ đều thất vọng — như người ta đã thấy qua thái độ của nhiều chính phủ tại buổi điều trần về nhân quyền ở Genève — vì Bạch Thư này còn quá trắng, nghĩa là chứa quá ít chất liệu đáng đọc.

Thật vậy, nội dung 45 trang giấy được dùng chỉ để chống đỡ, dẫn chứng và biện bạch cho 3 ý chính. Đó là:

- Nhân quyền không thể đi ngược với nhu cầu độc lập, tự do, và tự quyết của dân tộc Việt Nam.

- Việt Nam chắc chắn có nhân quyền vì chính “Bác Hồ” nói thế.

- Việt Nam chắc chắn có nhân quyền vì hiến pháp và luật pháp đã ghi và ghi rất nhiều như vậy.

Đối với thế giới, đặc biệt là những chuyên gia quốc tế về nhân quyền, thì việc phân tích các lý do tại sao 3 ý trên không “ăn khách” quả là không cần thiết, vì mỗi năm họ đều nghe vài chục nước độc tài hoặc bán độc tài đưa ra 3 lý do đó. Hiển nhiên, không phải nước nào cũng có “Bác Hồ” như Việt Nam và Trung Quốc, nhưng thế giới còn nhiều bác tương tự được đưa ra làm bảo chứng nhân quyền, như Bác Mugabe của Zimbabwe, Bác Al-Bashir của Sudan, Bác Kim của Bắc Hàn, Bác Shwe của Miến Điện, v.v. Và hầu như luôn luôn theo sau 3 lý do đó là lời than vãn “vì nước em còn nghèo …” (nên em có quyền ác chăng?).

Tuy không cần cho giới quan sát nhân quyền quốc tế, nhưng bài này có lẽ vẫn cần được gởi đến các quan chức Hà Nội để xác quyết một lần nữa là cả người Việt lẫn thế giới đều đã biết và biết rất rõ các sai trật trong lối ngụy biện của họ. Do đó, lãnh đạo Đảng và Nhà Nước CSVN phải sớm ý thức được rằng: họ chỉ có 2 chọn lựa, hoặc tôn trọng nhân quyền thực sự để hòa nhập với nhân loại. Hoặc bị cả thế giới khinh bỉ như các chế độ độc tài khác trên thế giới. Các vở kịch họ trình diễn tại các diễn đàn quốc tế chỉ thêm tốn công vô ích; và các kiểu nói lấy được chỉ tốn thêm “sách trắng” mà không còn lừa bịp được ai nữa.

1. Nhân quyền có làm thiệt hại nền độc lập, sự tự do, hay quyền tự quyết của dân tộc không?

Luận điểm này được viết ngay tại các trang đầu nên người đọc dễ có cảm giác ngay rằng đây là một tài liệu rất cũ mà Ban Tuyên Huấn Trung Ương lục tủ lấy ra và chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao thêm thắt cho có vẻ cập nhật. Cũng có thể Bộ Ngoại Giao sao chép thẳng từ các bài viết về vấn đề nhân quyền của Hội Đồng Lý Luận Trung Ương trong Tạp Chí Cộng Sản. Đây là luận điểm được lập đi lập lại trong nhiều năm qua mỗi khi CSVN bị thế giới phê phán vi phạm nhân quyền. Suốt 60 năm qua tại miền Bắc và hơn 30 năm qua trên cả nước, các quyền con người của dân tộc luôn luôn bị hy sinh nhân danh độc lập, tự do và quyền tự quyết. Nhưng ngày nay, với các phương tiện thông tin ngoài luồng, càng lúc lãnh đạo đảng CSVN càng phải đối diện với những câu hỏi nền tảng:

Hiện nay, theo như Đảng khẳng định, chẳng có ngoại xâm nào chực chờ xâm lấn đất nước thì tại sao các quyền tự do của người Việt Nam còn thua cả thời sống dưới chế độ thực dân Pháp? và lại càng thua xa dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ mà lãnh đạo Đảng cho là vô cùng áp bức, và cứ nhất định phải “giải phóng” nhân dân ra khỏi chế độ đó cho bằng được?

Và có lẽ cái quyền quan trọng nhất trong các quyền con người đã bị đảng chôn vùi là quyền tự quyết vận mạng của đất nước. Ngày nay, vì lý do gì mà tất cả mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều chỉ do 15 người thuộc Bộ Chính Trị độc quyền quyết định? Trong khi Bộ Chính Trị là một cơ chế hoàn toàn không do dân bầu, và cũng không hề được quy định trong hiến pháp.

Và khi càng nhắc lại những bài bản “phải hy sinh tất cả cho độc lập dân tộc”, người Việt Nam càng phải hỏi lãnh đạo Đảng về các vấn đề đang bốc lửa hiện nay. Tại sao lãnh đạo đảng luôn tự xưng là những người hiến thân cho đất nước, nhưng lại cứ từng bước cố ý làm thiệt hại nghiêm trọng nền độc lập và sự toàn vẹn của quốc gia? Tại sao 50 năm trước, ông Hồ, ông Đồng ký nhượng không chỉ 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mà còn hầu hết thềm lục địa Việt Nam cho cái “Lưỡi Bò” Trung Quốc? Tại sao trong các năm qua các ông Mười, ông Phiêu, ông Anh, ông Kiệt cứ liên tục ký dâng đất, dâng biển, dâng cá, dâng khoáng sản cho Trung Quốc? Tại sao ngày hôm nay, vì lý do gì mà các ông Mạnh, ông Dũng tiếp tục bắt dân thờ lạy 16 chữ vàng, và nhất định phải rước hàng ngàn người Trung Quốc vào Tây Nguyên, một vùng có tính hệ trọng chiến lược của Việt Nam? v.v…

Tất cả các câu hỏi này đều dẫn đến một điểm cốt lõi là: lãnh đạo đảng CSVN, từ xưa đến nay, có yêu nước không? hay chỉ lợi dụng đất nước làm mũi nhọn cho phong trào cộng sản quốc tế? Lãnh đạo đảng CSVN, từ xưa đến nay, có yêu dân tộc không hay chỉ lợi dụng dân tộc làm công cụ để xây dựng và duy trì nền toàn trị của riêng họ?

Hơn thế nữa, ngay cả khi đất nước bị đe dọa ngoại xâm, người ta phải thấy được giá trị nhân phẩm của con người Việt Nam, thì từ đó mới thấy nhu cầu phải bảo vệ văn hoá, bảo vệ dân tộc, và bảo vệ đất nước Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên không chỉ riêng cho một dân tộc nào mà cho cả nhân loại. Vì vậy, đề cao và bảo vệ nhân quyền KHÔNG BAO GIỜ là điều đi ngược lại sự độc lập, tự do, hay quyền tự quyết của bất kỳ dân tộc nào. Ngược lại, một dân tộc mà sự tự hào và nhân phẩm con người được tôn trọng luôn là một dân tộc MẠNH. Và chỉ những dân tộc mạnh mới có khả năng duy trì độc lập, tự do, và quyền tự quyết lâu dài.

1. Chắc chắn có nhân quyền vì chính “Bác Hồ” nói thế?

Tên tuổi ông Hồ Chí Minh, các câu viết và các câu nói của ông được trích dẫn không dưới 5 lần trong 45 trang của cuốn Sách Trắng, như một bằng chứng vững chắc về quyết tâm đề cao nhân quyền của giới cầm quyền tại VN. Đây cũng là một cái gạch nối khó hiểu.

Có thể đầu óc của Ban Tuyên Huấn Trung Ương vẫn ngừng lại ở thời thập niên 1960, 1970, và nghĩ rằng chỉ cần nhắc thế giới về mối thiện cảm mà một thời họ đã có, và coi “Bác Hồ” là nhân vật gắn liền với nền độc lập của Việt Nam, thì đuơng nhiên họ sẽ có thiện cảm, và tin là các thế hệ lãnh tụ tiếp nối ông Hồ chắc chắn đang cung cấp nhân quyền cho dân tộc Việt — vì nếu không thì có độc lập để làm gì.

Điều mà Ban Tuyên Huấn Trung Ương quên mất là Liên Sô đã xụp đổ và văn khố Liên Sô đã được mở ra cho thế giới vào đọc. Và họ cũng quên mất các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, đã chọc thủng quá nhiều lỗ trên bức màn bưng bít thông tin của mọi chế độ, kể cả chế độ CSVN. Nhiều mảng huyền thoại về ông Hồ, do chính ông hoặc chế độ của ông tạo ra, nay đã rơi rụng và để lại nhiều loang lổ.

Ngày nay nhân loại đã có đủ chứng cớ để biết:

1. Ông Hồ không vì dân tộc mà đi tìm đường chống Pháp cứu nước. Internet đã giúp truyền bá rộng rãi bức thư ông xin vào trường thuộc địa và hứa sẽ phục vụ chế độ hết lòng nếu được chấp nhận [1]. Rồi đến bức thư ông xin cho thân phụ được làm việc cho chính quyền thuộc địa, v.v….

2. Sau đó, suốt cuộc đời làm cách mạng, ông Hồ được huấn luyện và luôn bày tỏ lòng khâm phục các cách tẩy rửa xã hội theo quan điểm giai cấp và các cách kiểm soát xã hội tuyệt đối của Lênin, Stalin, và Mao Trạch Đông. Đây là điều chính ông Hồ khẳng định… nhưng bằng tiếng Việt. Và vì thế mà vào thời 1960, 1970 thế giới không mấy ai hay biết. Ngày nay, nhiều học giả quốc tế, đặc biệt là sử gia Sophie Quinn-Judge, đã trả lại vị trí đích thực cho ông Hồ. Ông là một cán bộ cộng sản quốc tế ưu việt, luôn biết quấn vào mình lá cờ “dân tộc” như Lênin căn dặn.

3. Chính vì thế mà ông Hồ đã cho tiến hành các chiến dịch đấu tố phú nông, diệt trừ trí thức, đàn áp tôn giáo trên toàn miền Bắc trong gần 2 thập niên ông cầm quyền. Lá thư của ông Hồ gửi Stalin để xin phép khởi động chiến dịch cải cách ruộng đất tại Việt Nam, vừa được văn khố Liên Sô cũ công bố vào năm ngoái, đã xác nhận điều này [2].

Do đó, đối với thế giới đầy đủ thông tin ngày nay, Ban Tuyên Huấn Trung Ương cần biết một thực tế rất khách quan là: việc viện dẫn tên tuổi ông Hồ Chí Minh như một bảo chứng cho thái độ tôn trọng nhân quyền thì chẳng khác gì nêu tên ông Joseph Stalin và ông Mao Trạch Đông như những tấm gương về lòng nhân bản.

3. Chắc chắn có nhân quyền vì hiến pháp và luật pháp đều có ghi và ghi rất nhiều?

Hầu hết các chế độ độc tài còn lại trên trái đất đều tận dụng lý lẽ đã quá bạc màu đó suốt mấy chục năm qua. Có chế độ còn chứng minh bằng các chữ “nhân dân”, “dân chủ” ghi rõ trong tên nước, hoặc các chữ “công bằng”, “công lý”, “hạnh phúc” ghi rõ trong quốc hiệu của họ. Thế giới cũng đã quá nhàm với các tủ sách luật hoành tráng chỉ để trang trí văn phòng các quan chức lớn mà chẳng ai mở ra bao giờ. Các cơ quan giám sát nhân quyền quốc tế đã đủ kinh nghiệm để chỉ đo tình trạng nhân quyền tại mỗi nước bằng những hành động cụ thể.

Ngoài việc viện dẫn hiến pháp và luật pháp, giới cầm quyền Việt Nam còn đi xa hơn một bước. Họ phải tin tưởng lắm vào việc thế giới không đọc được tiếng Việt thì mới có thể khoe rằng các điều khoản nhân quyền không chỉ nằm trong hiếp pháp và các bộ luật mà còn qua 13 000 văn bản pháp luật các loại kể từ năm 1986 đến nay. Nếu biết đọc tiếng Việt, thế giới sẽ thấy hầu như tuyệt đại đa số cả 13 000 văn bản đó chỉ nhằm 1 mục tiêu duy nhất là vô hiệu hóa các điều khoản nhân quyền đã ghi trong hiến pháp và luật pháp. Đó là những pháp lệnh, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, và ngay cả cảnh cáo lớn nhỏ để cai trị mọi mặt xã hội, bất cần sự hiện diện của hiến pháp hay luật pháp — từ những chỉ thị cấm báo chí nói đến Hoàng Sa-Trường Sa, Bauxite, đến những quyết định cấm dân tụ tập quá 5 người, hay bản nghị quyết 31/CP lừng danh thế giới về quản lý hành chánh vô thời hạn, không cần xét xử, v.v…

Ban Tuyên Huấn Trung Ương cần biết một thực tế khách quan nữa là hầu hết sứ quán các nước lớn hiện nay tại Hà Nội đều có công chức từ nước họ biết nói, đọc, và viết tiếng Việt, kể cả một số công chức là con em của thế hệ thuyền nhân tỵ nạn khắp thế giới mấy chục năm trước. Chính vì vậy mà đại diện nhiều nước đã nêu lên tại buổi điều trần nói trên về cái khoảng cách giữa các khoản luật trên giấy tờ và thực tế thi hành tại Việt Nam không những không ngắn lại, mà ngày càng gia tăng. Chính các tổ chức nhân quyền quốc tế vạch ra các điều hiển nhiên sau đây:

- Về quyền tự do báo chí, hiện nay trong số hơn 700 báo và đài phát thanh, phát hình, vẫn KHÔNG CÓ 1 tờ báo hay đài tư nhân nào. Tất cả mọi cơ quan truyền thông đều được đảng CSVN công khai tuyên bố là công cụ của riêng họ. Tình trạng này còn tệ hại hơn cả thời Pháp thuộc, khi dân tộc Việt Nam bị người ngoại quốc cai trị.

Dưới sự điều động của đảng CSVN, truyền thông tiếp tục được dùng để dựng chuyện, sỉ vả bất cứ ai không đồng ý với chế độ, bất kể các điều khoản ngăn cấm trong luật báo chí, luật hình sự.

Báo chí Đảng cũng đuợc dùng để kết tội bất cứ ai, bất cần các thủ tục về điều tra, xét xử trong luật tố tụng. Các khiếu nại của các nạn nhân không những không được giải quyết, mà nạn nhân còn bị trả thù nặng hơn nữa.

- Về quyền an toàn bản thân, trước sự theo dõi của thế giới, công an hiện nay đang chuyển dần sang thủ thuật dùng các khoản luật không liên hệ đến chính trị để làm lý cớ giam cầm các tiếng nói đấu tranh cho nhân quyền. Blogger Điếu cày bị công an giam về tội “trốn thuế”, trong lúc cả thế giới đều biết ông bị tù vì đã lên tiếng phản đối Trung Quốc chiếm đất, lấn đảo của Việt Nam; Luật sư Lê Trần Luật bị công an đóng văn phòng, tịch thu tài sản vì tội “lừa bịp”, trong lúc cả thế giới đều biết ông bị xách nhiễu như vậy chỉ vì đã tranh đấu cho dân oan và các nạn nhân Thái Hà; v.v…

Trước sự theo dõi của thế giới, công an cũng gia tăng việc dùng các đoàn thể dân sự ngoại vi của họ để đàn áp biểu tình vào ban ngày, và dùng du đảng, đầu gấu để gây sự, đập phá, ném đồ dơ bẩn vào nhà các nạn nhân lúc ban đêm. Tất cả xảy ra ngay trước mắt các công an mặc đồng phục đang đứng tại các hiện trường. Cảnh tượng này không chỉ xảy ra tại những nơi đông người như giáo xứ Thái Hà, mà cả tại nhà riêng của các nhà đấu tranh cho Nhân Quyền.

- Về quyền lập hội, hiện nay vẫn không có một công đoàn lao động độc lập nào tại Việt Nam. Tất cả những ai vận động thành lập công đoàn độc lập đều bị giam cầm. Cụ thể là nhóm của anh Nguyễn Tấn Hoành tại miền Trung.

Lệnh cấm tụ tập trên 5 người không giấp phép vẫn còn hiệu lực và công an vẫn có thể viện dẫn quyết định này bất kỳ lúc nào.

Không một hội đoàn hay đảng phái chính trị độc lập nào được phép hoạt động. Người dân chỉ được phép bầu những người đã được đảng CSVN chọn sẵn để đưa vào Quốc Hội.

- Về các nỗ lực bảo vệ xã hội, nạn tham nhũng cửa quyền tràn ngập gây khổ sở cho người dân trong đời sống hàng ngày vẫn được chế độ dung túng. Đặc biệt trong năm qua, một số ký giả và công chức can đảm phanh phui các vụ tham nhũng lớn, đều bị đem ra trừng phạt; trong lúc các quan chức đang ngồi tù vì tội tham nhũng lại được tha bổng. Báo chí được chỉ thị phải im tiếng trước các vụ tham nhũng lớn và chỉ được nói đến các vụ nhỏ ở cấp phường xã.

Trong lúc công an Việt Nam đủ phương tiện để theo dõi, và ngay cả bắt cóc các nhà dân chủ Việt đang trốn tránh tại Miên, thì tệ nạn trẻ em Việt, từ 5 tuổi trở lên, bị bán vào các ổ mãi dâm vẫn gia tăng. Các đường giây buôn trẻ em từ Việt Nam vẫn diễn ra trước mắt các công an tham nhũng.

Trong lúc giới cầm quyền CSVN lớn tiếng ủng hộ các nỗ lực chống buôn bán phụ nữ, thì các đường giây buôn bán “cô dâu” tại các thành phố lớn tiếp tục được Nhà Nước hợp pháp hóa. Đây là những dịch vụ buộc nhiều thiếu nữ phải loã lồ để các khách ngoại quốc chọn lựa.

Có lẽ tiêu biểu hơn cả về khoảng cách giữa lời nói và việc làm là hiện tượng những người cai trị Việt Nam ngày nay vẫn không dám phổ biến bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà họ đã công khai ký kết; và ngăn chận mọi nỗ lực của người dân truyền tay nhau tài liệu này.

Chính ông Phạm Đình Minh, đại diện phái đoàn CSVN tại buổi điều trần đã xác nhận: “cán bộ lãnh đạo các cấp chưa thấu hiểu những công ước quốc tế như: Công Ước về Quyền Dân Sự Chính Trị, Công Ước về Quyền Tự Do Tôn Giáo kể cả Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền…” Lý do đơn giản là họ có bao giờ được nhận, được cầm, được đọc các văn bản cấm kỵ đó đâu mà có thể thấu hiểu.

Khi biết quá rõ thực tế nhân quyền tại Việt Nam, không mấy ai tại buổi điều trần ngày 8 tháng 5 ngạc nhiên khi phái đoàn Hà Nội bác bỏ hầu hết các đề nghị cải sửa cần thiết (cho phù hợp với những gì mà CSVN đã cam kết) từ các nước Canada, Na Uy, Hà Lan, Pháp, v.v… Đây là những nước đã và đang viện trợ cho Việt Nam, và không thể liệt họ vào loại “các thế lực thù địch” hay chỉ đưa ra những đề nghị để “chống phá Nhà Nước”.

Một kết luận quan trọng được nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế và đại diện nhiều nước đồng ý là: Hầu hết các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam ngày nay đều phát xuất từ chính nhà cầm quyền và việc chặn đứng các vi phạm này hoàn toàn nằm trong tầm tay của họ. Chưa cần Nhà Nước làm điều tốt mà chỉ cần họ ngưng làm điều xấu, thì tình hình nhân quyền tại Việt Nam đã được cải thiện rất lớn rồi.

Lãnh đạo Đảng và Nhà Nước CSVN cũng không còn có thể nêu lý do “nước nghèo” thiếu phương tiện nên không thể ngưng làm điều xấu. Viện dẫn ngụy biện đó có lẽ cũng quái dị như câu: “Vì nuớc em còn nghèo… nên em có quyền ác!”.

Vũ Thạch

---

Ghi chú

[1]




Thư xin nhập trường thuộc địa gửi tổng thống Pháp của Nguyễn Tất Thành

Tạm dịch:

Marseille ngày 15 tháng chín 1911

Kính gởi ông Bộ Trưởng bộ Thuộc Ðịa

Kính thưa ông Bộ Trưởng,

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa.

Tôi hiện làm công nhân trong công ty Chargeurs Réunis để mưu sinh (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).

Tôi hoàn toàn không có tài sản và khao khát được học hỏi. Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích giáo hóa.

Tôi gốc tỉnh Nghệ An, xứ An Nam.

Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi.

Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892 , con của ông Nguyễn sinh Huy, Phó Bảng. Học sinh pháp văn, quốc ngữ, chữ hán.

[2]




Tam dịch (Thanh Nam):

Số tài liệu 86

Đồng chí Stalin kính mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.

- Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.

2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có người chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.

3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau

(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất

Hồ Chí Minh
30-10-1952
(đã kí)




Tạm dịch (Thanh Nam):

Số tài liệu 88

Đồng chí Stalin kính mến !

Tôi gửi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam. Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của 2 đồng chí Liu Shaoshi và Van Szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này.

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh
(đã kí)
31-10-1952

2009/05/29

Khai Thác Bauxite: Một Dự Án Không Tưởng

Lý Thái Hùng

Trước sức ép khá mạnh mẽ của dư luận từ sau khi các nhà trí thức tại Việt Nam gửi kiến nghị yêu cầu quốc hội Cộng sản Việt Nam cho ngưng tiến hành dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, Bộ Công Thương – cơ quan chỉ đạo dự án khai thác Bauxite – đã gửi đến các đại biểu quốc hội Cộng sản Việt Nam một bản báo cáo mang số 91/BC-CP, gọi là tường trình về việc khai thác các dự án Bauxite, ngày 22 tháng 5 năm 2009. Bản báo cáo dài 13 trang chia làm năm phần:

Phần đầu tóm lược về những kế hoạch thăm dò và những dự tính khai thác Bauxite trong hai thời kỳ 2007 đến 2015 và từ 2016 đến 2025.

Phần hai tóm lược về tiến trình thực hiện dự án khai thác Bauxite bao gồm các dự án xây dựng nhà máy, tuyến đường sắt Tây Nguyên – Bình Thuận và cảng Kê Gà – Bình Thuận.

Phần ba tóm lược về những góp ý liên quan đến việc khai thác Bauxite từ các giới trí thức, chuyên gia trong thời gian qua trên mặt báo chí.

Phần bốn tóm lược về những quan điểm của Bộ Công Thương liên quan đến các góp ý ở phần ba nói trên và những nhận định của Bộ Công Thương về hiệu quả kinh tế, vấn đề lựa chọn sản phẩm, kế hoạch sản lượng dự án, hiệu quả xã hội – giữ gìn bản sắc Tây Nguyên, an ninh quốc phòng…

Phần sau cùng và cũng là phần quan trọng nhất của bản báo cáo vẫn là núp dưới chủ trương lớn của đảng, để cương quyết tiến hành và kêu gọi quốc hội hãy thường xuyên giám sát quá trình thực hiện dự án Bauxite.

Ấn tượng chung của dư luận về 13 trang báo cáo của Bộ Công Thương về việc đưa dự án khai thác Bauxite trở thành một ngành công nghiệp lớn như Nguyễn Tấn Dũng từng tuyên bố tại Hải Phòng vào đầu tháng 5 vừa qua là hoàn toàn không tưởng.

Thứ nhất là không tưởng về hiệu năng kinh tế. Bản báo cáo đã không cho thấy toàn bộ số tiền đầu tư mà nhà nước sẽ bỏ vào dự án gồm lập các nhà máy Alumin tại Tân Rai, Nhân Cơ, xây dựng các tuyến đường sắt, cảng Kê Gà, các hồ nước chứa bùn đỏ, tốn phí về sự tái tạo lại đất sau khi khai thác, cái giá phải trả cho sự ô nhiễm môi trường và nhất là sự phá huỷ nền văn hóa và bản sắc Tây Nguyên là bao nhiêu để rồi từ đó so sánh với lợi nhuận trên từng tấn Alumin thu được. Trong bản báo cáo, Bộ Công Thương chỉ nói đến vấn đề lợi nhuận từ việc khai thác Bauxite rồi luyện thành Alumin và cho đó là hiệu quả kinh tế là một sự gian trá. Ngay cả Chủ tịch Tập đoàn than – khoáng sản là công ty chính lo việc khai thác Bauxite tại Tây Nguyên còn phải đánh giá 50 ăn – 50 thua và tuyên bố trong Hội thảo về Bauxite ngày 9 tháng 4 năm 2009 tại Hà Nội, cho thấy là bản cáo của Bộ Công Thương hoàn toàn với chủ đích đánh lừa dư luận và chỉ làm trò cười cho dư luận khi cố tình “lấy vải thưa che mắt thánh”. Một dự án có hiệu quả kinh tế đúng nghĩa phải được tính toán toàn bộ những chi phí của các dự án chính, dự án phụ thuộc, những cái giá phải trả trong ngắn hạn cũng như dài hạn của hệ quả ô nhiễm môi sinh, và phải đối chiếu với những kế hoạch khai thác khác trong vùng rồi mới có thể kết luận về thành quả kinh tế có hay không của việc khai thác Bauxite.




Theo nhà nước CSVN, bùn đỏ của Bauxite Tây nguyên không có chất gây độc hại cho môi trường !

Thứ hai là không tưởng về tác động môi trường. Bản báo cáo đã khẳng định rằng bùn đỏ của Bauxite Tây nguyên không có chất gây độc hại cho môi trường, không có chất phóng xạ và không thuộc loại rác thải nguy hiểm, vì thế Bộ Công Thương cho rằng chỉ cần quan tâm mặt quản lý, kiểm tra kỹ lưỡng thì sẽ không nguy hại. Đây là mấu chốt của sự không tưởng khi: 1/ Chỉ dựa trên một vài thử nghiệm phân chất bùn đỏ không đủ để phủ nhận kinh nghiệm chung của hầu hết các quốc gia khai thác Bauxite, đó là bùn đỏ chứa lượng kiềm lớn rất có hại cho các nguồn nước; 2/ Dù Bộ Công Thương có hứa là sẽ kiểm soát chặt chẽ và giải quyết bằng những kỹ thuật tối tân; nhưng thực tế của Tây Nguyên cho thấy là nhà nước CSVN không đủ khả năng để thích ứng cái gọi là “những công nghệ xử lý hiện đại” vì hai lý do: quá đắt đỏ, do đó không đáp ứng hiệu quả kinh tế và nhất là các hồ nước chứa bùn đỏ dễ bị mưa cuốn đi rất nhanh sau mỗi đợt mưa lớn bởi cây rừng đã bị đốn đi gần hết. Không thể nào một báo cáo cấp chính phủ khi đề cập đến việc bảo vệ môi trường mà lại chỉ nói rằng “Bộ tài nguyên và môi trường sẽ chủ trì phối hợp các ban ngành để lo”; đây là lề thói làm việc kiểu “đánh trống bỏ dùi”, tuyên bố lấy lệ kiểu lấp liếm sự thật.



Nhân Công Trung Quốc tại Việt Nam

Thứ ba là không tưởng về an ninh – quốc phòng. Bản báo cáo nói rằng việc nhân công Trung Quốc đưa sang làm việc tại Tây Nguyên chỉ nằm trong phần xây dựng nhà máy luyện alumin do nhà thầu Chinalco của Trung Quốc đưa sang hiện có khoảng 600 lao động, còn bao nhiêu thì sẽ do công nhân Việt Nam đảm trách. Qua cách trình bày, Bộ Công Thương muốn cho dư luận hiểu là số công nhân Trung Quốc làm việc ở Tây Nguyên không bao nhiêu, chỉ vài ngàn người và họ sẽ rời Việt Nam sau khi số công nhân Việt Nam có thể đảm trách hoàn toàn. Bộ Công Thương đã không cho biết là số công nhân Trung Quốc sẽ rời Việt Nam vào lúc nào trong quá trình khai thác Bauxite kéo dài đến năm 2025 cũng như không cho biết về kế hoạch chuyển giao kỹ thuật được thực hiện ra sao giữa công nhân Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng điều tai hại mà Bộ Công Thương che giấu là số lao động Trung Quốc hiện không phải 600 mà lên đến hằng nhiều ngàn người. Tuy nhiên sự đe dọa an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên, không chỉ ở số lượng công nhân Trung Quốc mà chính là những cán bộ tình báo trà trộn vào công nhân để sang hoạt động tại Việt Nan. Với bản chất bá quyền của Bắc Kinh qua vụ Biển Đông hiện nay, chỉ cần sau 10 năm hoạt động, cho đến năm 2025, Trung Quốc sẽ nắm toàn bộ Tây Nguyên.

Thứ tư là không tưởng về việc biến Tây Nguyên thành nơi phát triển công nghiệp Bauxite. Bản báo cáo viết rằng để phát triển Tây Nguyên không thể chỉ dựa vào phát triển cây công nghiệp như cà phê, chè và cao su mà phải tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của Tây Nguyên, đặc biệt là về thủy điện và khoáng sản (chủ yếu là Bauxite). Đúng là Tây Nguyên có hai lợi thế về Thuỷ điện và Bauxite, nhưng trong vòng 50 năm trước mặt, lợi thế đó không mang lại những lợi nhuận to lớn cho Tây Nguyên so với việc trồng cây công nghiệp vì khả năng của con người và đất nước Việt Nam chưa thể biến Thủy điện và Bauxite thành lợi thế của mình. Do đó khi khả năng không có và chưa nắm vững toàn bộ những kinh phí mà phải dựa vào sức người để khai thác thì sẽ trở thành hoang tưởng với những dự án chấp vá như Bộ Công Thương đã báo cáo.

Nói tóm lại, dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên không có tính thuyết phục về mặt kinh tế, tài chánh, xã hội, an ninh. Nó sẽ trở thành một gánh nặng tai hại cho dân tộc Việt Nam nếu Bộ Công Thương nói riêng và đảng Cộng Sản Việt Nam nói chung vẫn cứ tiếp tục với những dự tính không tưởng nói trên.

Lý Thái Hùng
Ngày 28 tháng 5 năm 2009

2009/05/21

Khía Cạnh Chính Trị Trong Việc Khai Thác Bauxite Tại Tây Nguyên

Lý Thái Hùng



Nếu như dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên được tiến hành trong khuôn khổ pháp lý và bảo vệ môi trường một cách nghiêm túc như nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tuyên bố, có lẽ vấn đề Bauxite đã không tạo ra sự bức xúc khó chịu trong hầu hết những ai có dịp biết và nghe đến nó. Hơn thế nữa, càng ngày những nhà nghiên cứu khoa học và xã hội càng phát hiện ra nhiều dữ kiện mập mờ trong việc lập dự án khai thác chung với Trung Quốc, bao gồm các khía cạnh về hiệu quả kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng, về tái tạo môi trường Tây Nguyên sau khi khai thác… đã cho thấy, toàn bộ dự án là một trái bom nổ chậm. Chỉ có một thiểu số quan chức có liên hệ đến những phe nhóm đang ăn chia trong vụ khai thác Bauxite mới che tai tuyên bố những giọng điệu lưỡi gỗ: Khai thác Bauxite là chủ trương lớn của đảng, nhà nước. Do đó, vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên đã trở thành một biến cố chính trị quan trọng trong dư luận của người Việt và quốc tế hiện nay.

Vấn đề cộng tác với Trung Quốc để khai thác Bauxite đã được đảng Cộng sản Việt Nam thảo luận từ đại hội đảng kỳ IX (2001) và kỳ X (2006), tức là kéo dài trong 8 năm dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư đảng. Để tiến hành việc thảo luận này, ông Mạnh đã cùng với ông Hồ Cẩm Đào – lúc đó là Phó chủ tịch nước Trung Quốc – ký tắt vào bản Tuyên bố hợp tác khai thác chung vào năm 2001. Trong suốt 8 năm qua, Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam cho biết là 15 nhân vật cao cấp của đảng đã nhiều lần bàn và ra nghị quyết kết luận để lãnh đạo việc xây dựng ngành công nghiệp khai thác Bauxite; nhưng trong thực tế thì dư luận chỉ mới biết đến dự án khai thác Bauxite từ tháng 6 năm 2008 khi vấn đề này được chính thức nêu ra trong bản Tuyên bố chung giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, nhân chuyến thăm Bắc Kinh hồi cuối tháng 5 năm 2008 của ông Nông Đức Mạnh. Nói cách khác, dự án khai thác Bauxite đã được lãnh đạo cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam bàn thảo và tính toán với Bắc Kinh cả 8 năm nay; nhưng hoàn toàn được giữ bí mật, không ai hay biết.

Từ cuối năm 2008, dự án khai thác Bauxite được công khai hóa với tin tức dự án Tân Rai tại Lâm Đồng chính thức làm lễ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18 tháng 11 năm 2008, và sau đó là hàng loạt những bài phân tích về nguy cơ khai thác Bauxite của nhiều nhà khoa học, xã hội ở trong nước, nhất là sự lên tiếng của Tướng Võ Nguyên Giáp thì dư luận mới biết và quan tâm hơn về dự án này. Nếu chỉ đọc bản báo cáo về dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên của Tập đoàn công nghiệp than–khoáng sản Việt Nam hợp tác với Tổng công ty sản xuất nhôm CHINALCO của Trung Quốc khai thác Bauxite tại hai công trường Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) từ năm 2007 đến 2015 và từ 2015 đến 2025, người ta sẽ chỉ thấy màu hồng của những khoản tiền to lớn do mỏ Bauxite mang lại cho Tây Nguyên. Theo tờ trình của Tập đoàn công nghiệp than–khoáng sản Việt Nam cho Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng (883/TT-HĐQT) vào tháng 2 năm 2007 thì khả năng khai thác Bauxite, luyện alumin tại Tây Nguyên kéo dài đến 100 năm, tận dụng hết tài nguyên khoáng sản nằm sâu dưới mặt đất với 5,4 tỉ quặng thô, chế biến thành 2,4 tỉ tấn quặng tinh và sẽ luyện thành 1 tỉ tấn Alumin nhôm.

Bên dưới hình ảnh màu hồng của tiềm năng khai thác Bauxite tại Tây Nguyên đứng hàng thứ ba thế giới, các nguy cơ về hủy hoại thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, chấn động lòng đất, hủy diệt nền văn hóa lâu đời của các sắc dân Tây Nguyên, đặc biệt là vấn đề an ninh quốc phòng khi hợp tác với Trung Quốc đã không được Tập đoàn công nghiệp than–khoáng sản Việt Nam và cả nhà nước Cộng sản Việt Nam nghiên cứu và báo cáo nghiêm chỉnh. Để trấn an dư luận, nhà nước Cộng sản Việt Nam đã cho tổ chức hai cuộc Hội thảo khoa học với sự tham dự nhiều quan chức đảng, nhà nước và một số nhà khoa học tại tỉnh Đắk Nông (tháng 12 năm 2007) và tại Hà Nội (tháng 4 năm 2009) nhưng chỉ là biểu kiến. Tất cả những phản biện của nhiều nhà khoa học, kể cả những cảnh báo sâu sắc của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, một thành viên nghiên cứu cao cấp trong Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam, về mức độ an toàn, hiệu quả kinh tế yếu kém và kỹ thuật lạc hậu của Trung Quốc đã không được chú ý. Ngoài ra, sự lên tiếng cảnh báo về nguy cơ Trung Quốc trên địa bàn Tây Nguyên của một số cựu tướng lãnh Cộng sản Việt Nam cũng không được Hà Nội quan tâm.

Ngày 3 tháng 3 năm 2009, hơn 100 trí thức, khoa học gia ở trong nước đã gửi thư lên quốc hội và chính phủ Cộng sản Việt Nam để yêu cầu cho trưng cầu dân ý về việc khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Chỉ năm ngày sau khi lá thư này được công bố, đã có hàng ngàn trí thức, thanh niên, dân chúng tham gia ký tên hưởng ứng. Trước sự kiện này, Ban bí thư cho phổ biến bản kết luận của Bộ Chính Trị liên quan đến việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng Bauxite trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2015 và 2005 đến năm 2025 vào ngày 24 tháng 4. Bản kết luận cũng chỉ nêu ra những điều chung chung như “Tây nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Lợi dụng bản kết luận mang tính chung chung của Bộ chính trị, Bộ công thương Cộng sản Việt Nam đã tấn công lại bản kiến nghị của các trí thức, khoa học gia và đã phổ biến một bản thông cáo báo chí ngày 29 tháng 4, quy chụp rằng những người ký tên trong kiến nghị hay phản đối dự án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên là “hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện… thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.

Ngày 7 tháng 5 năm 2009, các trí thức, khoa học gia Việt Nam đã phản bác lại những quy chụp mang tính hàm hồ của Bộ Công Thương trong lá thư ngỏ số 2 và ngày 17 tháng 5 năm 2009, nhân kỳ họp quốc hội khóa 12, các trí thức, khoa học gia Việt Nam gửi lá thư ngỏ số 3 yêu cầu quốc hội mang vấn đề Bauxite ra thảo luận và yêu cầu chính phủ cho ngưng toàn bộ dự án khai thác Bauxite, sản xuất alumin hiện đang có với mọi đối tác.

Với một số những diễn tiến quanh vụ khai thác Bauxite tại Tây Nguyên cho thấy là ông Nông Đức Mạnh và một số thành viên trong Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến nay là tác nhân chính của trái bom nổ chậm này. Chính ông Mạnh và Bộ chính trị đã đi đêm với Trung Quốc trong gần 8 năm để mặc cả về việc khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Không ai biết rõ những mặc cả này là gì nhưng ít ra người ta có thể suy đoán rằng những quyền lợi mà phía Bắc Kinh trả cho Bộ chính trị và đảng Cộng sản Việt Nam phải cao hơn những thiệt hại mà người dân Việt Nam tại Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung phải hứng chịu qua vụ khai thác này. Nếu Hà Nội coi việc khai thác Bauxite là chủ trương lớn của đảng và nhà nước thì ông Mạnh và bộ chính trị không thể coi thường những thiệt hai về hai mặt: ô nhiễm môi trường và an ninh quốc phòng khi hợp tác với Trung Quốc qua dự án Bauxite.

Rõ ràng là quyết định khai thác Bauxite tại Tây Nguyên chỉ nằm trong tay một thiểu số quyền lực ở Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Những bộ phận chuyên môn đảm trách các công đoạn khai thác hay kiểm tra chỉ giải quyết về mặt kỹ thuật, không có quyền hạn quyết định, nên vì thế mà ông Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên khi đi điều tra tại Bảo Lâm chỉ dám đề nghị bảo vệ môi trường, còn có làm hay không thì tùy theo chủ đầu tư. Nhìn như vậy, chúng ta mới thấy rằng ông Trương Tấn Sang, thường trực Ban bí thư cho phổ biến bản kết luận của Bộ chính trị hôm 24 tháng 4, hai tuần lễ sau khi hàng trăm trí thức, khoa học gia công bố bản kiến nghị về Bauxite mang một dụng ý chính trị.

Thứ nhất, Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam gián tiếp cho biết là họ không thể rút lại dự án khai thác Bauxite mà đã bỏ tới 8 năm đi đêm với Bắc Kinh. Nghĩa là cả nước có chống gì đi nữa thì chủ trương khai thác này vẫn tiến hành với phía Trung Quốc.

Thứ hai, Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra ba quan tâm: 1/ an ninh quốc phòng; 2/ bán cổ phần cho nước ngoài; 3/ sử dụng lao động trong nước, cùng với việc úp úp mở mở xét lại việc tiến hành dự án khai thác tại Nhân Cơ trong bản kết luận chỉ là tìm cách câu giờ, hướng dư luận vào chuyện đã rồi.

Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam vốn đã dựa vào Trung Quốc để sống còn từ năm 1991 cho đến nay, và họ đã luôn tỏ ra khiếp nhược trước Bắc Kinh về các vấn đề cốt lõi như biên giới phía Bắc, vịnh Bắc Việt, quần đảo Hoàng sa và Truờng sa, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 Hải lý trên Biển Đông. Nay với vấn đề khai thác Bauxite sau 8 năm đi đêm, làm sao mà Cộng sản Việt Nam dám tuyên bố ngưng dự án. Do đó vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên không còn thuần tuý ở khía cạnh hiệu quả kinh tế, ô nhiễm môi trường như nhiều người đề cập mà chính là thái độ chính trị của Cộng sản Việt Nam đối với Bắc Kinh.

Đây là sự tủi nhục của dân tộc ta hiện nay! Mỗi chúng ta đều có bổn phận giải quyết sự tủi nhục này, ngay bây giờ, bằng những hành động tích cực.

Lý Thái Hùng
20 tháng Năm, 2009

2009/05/20

Dân tộc Việt Nam đã đạt được một thắng lợi lớn trước nguy cơ tàn phá Tây Nguyên

Hoàng Cơ Định



Từ nhiều năm qua, chưa bao giờ nước ta lại phải đối diện với một nguy cơ to lớn như việc nhà cầm quyền CSVN quyết định để Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác quặng bô-xít, biến Tây Nguyên thành nơi cung cấp Alumina cho Trung Quốc.

Vào tháng 2/2009, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước (của đảng CSVN)”. Cũng từ đó, mặc dầu sự lên tiếng của hàng ngàn người Việt Nam, là những nhà khoa học, kinh tế, văn hóa, quân sự, truyền thông vv… Lãnh đạo CSVN vẫn một mực khăng khăng phải tiếp tục lao tới, không cần nghe, không cần nhìn và chắc chắn là chẳng cần cân nhắc, chỉ cần nói lấy được rằng đây là quyết định nhất quán của chúng tôi từ Đại Hội Đảng (của chúng tôi) kỳ trước… Thế rồi mặc cho sự ưu lo phẫn uất của hàng ngàn con người, đoàn xe cơ giới và hàng đoàn công nhân Trung Quốc đã tới cầy nát những ngọn đồi xanh mướt của Tây Nguyên, họ tàn phá Tây Nguyên như vào chỗ không người… Đây mới chỉ là giai đoạn xây cất nhà máy chuẩn bị cho giai đoạn phá rừng xẻ núi một cách triệt để và vĩ đại hơn, để rồi những nơi trước đây là nương trà, cà phê hay những đồi thông nên thơ sẽ trở thành mảnh đất hoang đầy hầm hố chỉ còn loại cây dại có thể mọc nổi sau khi lớp quặng bô-xít được moi đi và lớp đất thịt bị nước mưa cuốn trôi.

Nguy cơ to lớn này đến gần mỗi ngày và bắt đầu trở thành hiện thực. Quang cảnh tại chỗ buộc người ta phải kết luận: Cường quyền đang thắng lẽ phải! Tuy nhiên, kết luận này chỉ phản ánh một cái nhìn ngắn hạn. Trong cuộc tranh đấu này một yếu tố mới chưa hề thấy từ nhiều thập niên qua đã phát sinh, đó là mối đồng thuận dân tộc, và đó là thắng lợi chúng ta đã đạt được trước nguy cơ tàn phá Tây Nguyên. Với thắng lợi này, nhất quyết dân tộc Việt Nam sẽ thành công bảo vệ vùng đất Tây Nguyên của chúng ta.

Mối đồng thuận dân tộc đã phát sinh ngay từ khi tin tức và nhận định về các kế hoạch khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, từ quốc nội lan ra hải ngoại vào cuối tháng 10 năm 2008. Hải ngoại là môi trường của người Việt tỵ nạn chống cộng, nhưng lần này dư luận đồng bào khắp nơi đều quan tâm theo dõi mà không bị ảnh hưởng bởi mầu sắc chính trị. Những chi tiết như tờ báo đó, trang web đó có phải là của Việt cộng hay không, nhân vật đó là dân thường hay viên chức Nhà Nước, không phải là những gì đồng bào quan tâm; mọi người chỉ đánh giá nội dung và giá trị lời phát biểu xem có hữu lý hay không và dụng tâm là bảo vệ núi đồi Tây Nguyên hay a dua hùa theo thâm ý lãnh đạo Đảng nhằm thoả mãn ý đồ của Trung Quốc. Những bài viết của TS Nguyễn Thành Sơn đã được giới truyền thông và đồng bào chống cộng tại hải ngoại phổ biến và đón đọc mặc dầu ông thẳng thắn tuyên bố: “Bản thân tôi là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?” Giữa TS Nguyễn Thành Sơn và những người Việt chống cộng chẳng hề có sự tiếp xúc hay thương thảo gì, chẳng bên nào hứa hẹn hợp tác với bên nào, nhưng cùng một mục tiêu: Bảo vệ Tây Nguyên và cùng một đối thủ: Nhà cầm quyền độc tài coi thường quyền sống của dân tộc. Vì vậy mà thành công của phía này cũng là thành công của phía kia…

Một nhân sự khác, thuộc diện đảng viên CS, lão thành hơn đảng viên Nguyễn Thành Sơn, đó là ông Dương Danh Dy, một cán bộ kỳ cựu trong ngành ngoại giao, nguyên Tổng Lãnh Sự CSVN tại Quảng Châu, mới đây đã trả lời phái viên RFA như sau:

“Vấn đề của ta với Trung Quốc,… muốn giải quyết vấn đề này (thì) không có cách gì khác là phải dựa trên sức mạnh dân tộc. Sức mạnh dân tộc đây tôi nói là cả trong và ngoài nước chứ không phải là chỉ có trong nước đâu. Ngoài nước cũng là sức mạnh rất đáng kể mà trước đây tôi đã rất chú ý vấn đề này nhưng mà gần đây thì người trong nước mới chú ý đến họ. Thế thì đấy là sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại. Sức mạnh của thời đại đây tức là cái công khai hoá, cái quốc tế hoá, cái đa phương hoá để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của những người đồng tình với chúng ta.”

Khi ông Dương Danh Dy đề cập tới khối người Việt ngoài nước, và ông còn nhấn mạnh là phải công khai hóa, đa phương hóa thì đó là sự xác định rõ rệt là để đối phó với áp lực của Trung Cộng thì cần có sự góp sức của cộng đồng người Việt không cộng sản và phải có một chế độ dân chủ đa nguyên ở trong nước. Đây là một phát biểu can đảm và thẳng thắn thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc, khó có thể có được nếu người Việt chúng ta không bị đe dọa tại Tây Nguyên.

Một nhân vật thứ ba đã góp phần to lớn trong việc thể hiện sự đồng thuận dân tộc là giáo sư Nguyễn Huệ Chi. Cách đây hơn 10 năm GS Nguyễn Huệ Chi và GS Hoàng Ngọc Hiến, trong vụ William Joiner Center tại Đại Học Boston, đã là nạn nhân của lối chống cộng quá đà trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Mặc dầu cả 2 vị đều thuộc thành phần trí thức dân chủ ở trong nước, nhưng chỉ vì là họ là những người sống trong chế độ CSVN, họ đã bị chống đối kịch liệt khi tham gia vào một dự án nghiên cứu văn hóa liên hệ tới cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại. Ngày hôm nay, khi GS Nguyễn Huệ Chi là một trong 3 nhà trí thức chủ xướng kiến nghị phản đối việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, kiến nghị của ông đã được sự hỗ trợ của hàng chục ngàn người Việt ở trong và ngoài nước trong đó không thiếu gì những người Việt chống cộng đã phản đối ông mười năm trước đây. Trong danh sách 600 người đầu tiên ủng hệ kiến nghị bảo vệ Tây Nguyên của GS Nguyễn Huệ Chi có sự tham dự của mọi thành phần dân tộc, đa phần là những nhà trí thức hoạt động trong các lãnh vực khoa học, văn hóa, truyền thông, luật pháp, kinh tế vv… Có những nhân sự đã từng hay đang ở chức vụ cao cấp như Dân Biểu hay Thứ Trưởng, Vụ Trưởng trong chế độ và cũng có những nhân vật vừa bị án tù vì tranh đấu dân chủ như Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân. Ngoài các nhân vật ký tên trong kiến nghị, còn vô số người khác đã bầy tỏ quan điểm bảo vệ Tây Nguyên, chống sự lấn chiếm của Trung Quốc qua các bài viết, đặc biệt là giới quân sự như các Tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Lê Văn Cương, Đồng Sĩ Nguyên. Trước sự lên tiếng của cả ngàn người với những dẫn chứng cụ thể và khoa học trong hàng ngàn trang tài liệu, phản ứng của phía nhà cầm quyền CSVN chỉ quanh quẩn những luận điệu hàm hồ, nói lấy được như tuyên cáo của Bộ Công Thương đã chụp cho toàn bộ quan điểm của những ai không đồng ý với việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên là: “Rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng, cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước”…

Cuộc phản đối việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên đã lớn rộng với sự góp phần của nhiều tầng lớp dân chúng tới mức không một tổ chức chống đối nào, mà nhà cầm quyền CSVN vẫn gán cho danh xưng là “tổ chức phản động”, dám nhận công là do mình khởi xướng. Trái lại, dư luận báo ngoại quốc còn cho rằng cuộc chống đối này chủ lực là từ chính nội bộ đảng CSVN.

Yomiuri là tờ báo lớn của Nhật, vào ngày 14/05/2009 đã dành gần một phần tư trang báo ở mục tin thế giới để đăng tin về những cuộc phản đối của người dân Việt Nam liên quan đến chuyện Trung quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên do ký giả Sato Masahiro từ Hà Nội gởi về. Theo bài báo này thì có thể nói việc phản đối này bắt đầu lan rộng khắp cả nước kể từ khi có lá thư của ông tướng Võ Nguyên Giáp gởi cho đương kim Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng vào đầu tháng giêng năm nay để yêu cầu ngưng không cho các hãng thầu Trung quốc khai thác bô-xít ở Tây nguyên vì nhiều lý do trong đó nổi bật nhất là vấn đề ô nhiễm môi sinh và quốc phòng bởi cao nguyên Trung phần là vị trí chiến lược rất quan trọng. Sau khi tướng Giáp công khai nội dung bức thư gởi cho ông Dũng thì đã có nhiều đảng viên từng giữ các chức vụ cao trong chính quyền cũng như các trí thức, học giả, khoa học gia… lên tiếng hưởng ứng hay tiếp tay lời ông Giáp yêu cầu. Một nhân vật chính trong những người phản đối đã nói với ký giả Sato rằng chúng tôi hết sức cảnh giác vì Trung quốc có thể xâm lược đất nước Việt Nam lúc nào không hay.

Nhìn từ khía cạnh nào người ta cũng phải công nhận đây là lần đầu tiên, việc chống đối sự cấu kết của lãnh đạo CSVN với Trung cộng trong việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, đã có sự góp phần của mọi thành phần quần chúng trong và ngoài đảng CS, từ hải ngoại tới quốc nội. Cuộc chống đối này chưa đạt được kết quả mong muốn và việc xây cất cơ xưởng, đào xới khắp nơi vẫn tiếp tục tiến tới trong vùng Lâm Đồng & Đắk Nông, mặc dầu vì tình trạng suy thái kinh tế chung trên thế giới, Alumina đang trở nên dư thừa, giá bán còn thấp hơn giá sản xuất và nhiều cơ sở khai thác bô-xít tại chính Trung Quốc đã phải đóng cửa…

Để giải thích tình trạng này, căn cứ vào lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, rằng: “Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng” thì không đủ. Với những ai quen thuộc với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thì có một giải thích dễ hiểu hơn, đó là “Có hợp đồng thì có Ăn Chia”, cho nên công tác xây cất nhà máy phải tiếp tục tiến tới vì đang mang lại lợi nhuận cho một số khá đông viên chức nhà nước. Còn về phía Trung Cộng, khi đã biến được lãnh đạo CSVN thành một tập đoàn tay sai khiếp nhược thì lợi tức khai thác dầu lửa Trung Cộng chiếm đoạt được ngoài khơi Biển Đông của nước Ta sẽ dư dả để bù đắp cho việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên. Họ sẽ tiếp tục có nguồn cung cấp Alumina mà khỏi bị ô nhiễm tại đất nước của họ.

Ý đồ và hành động xâm lấn của Trung Quốc không phải ngày hôm nay mới có, thái độ nhu nhược của chế độ CSVN đối với Trung Quốc không phải ngày hôm nay mới lộ rõ, nhưng sự khác biệt sẽ làm thay đổi tình thế là trước những nguy cơ to lớn về nhiều mặt trong việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, chưa bao giờ chúng ta kết hợp được một sự đồng thuận dân tộc rộng rãi như hiện nay. Sự kết hợp này không phải là một thoả hiệp có được bằng thương thuyết giữa các phe phái mà do sự ý thức mọi người cùng nhìn thấy, vì vậy sự hợp tác sẽ bền vững và ngày một mở rộng. Ngày hôm nay người ta chống lại việc lãnh đạo CSVN để cho Trung Quốc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên là vì những nguy cơ mà với chút thông minh ai cũng phải thấy trước. Khi kế hoạch này tiếp tục, số người mất việc vì các đồn điền trà và cà phê bị phá hủy sẽ ngày một gia tăng, rồi những trận lụt khủng khiếp sẽ xẩy ra vì mưa lũ trên cao nguyên không còn bị ngăn cản bởi lớp thảo mộc tại các đồn điền và cây rừng, rồi những tai nạn do lượng bùn đỏ chất chứa lại bắt đầu gia tăng… Lúc đó cuộc tranh đấu của người dân Việt Nam sẽ còn bội phần quyết liệt hơn ngày hôm nay, đó là một cuộc tranh đấu cho sự sống còn mà không một cường quyền nào có thể áp chế được.

Thắng lợi vì vậy, với thời gian, nhất quyết sẽ về phía dân tộc Việt Nam.

Hoàng Cơ Định
(
hoangcodinh@jps.net)


2009/05/19

Phản đối việc trục xuất một thành viên Đảng Việt Tân khỏi Việt Nam



Ngày 18 tháng 5 năm 2009

Thông Cáo Báo Chí
v/v CSVN trục xuất Ông Nguyễn Văn Bé, thành viên Đảng Việt Tân ra khỏi Việt Nam

Ngày 18/05/2009 công an CSVN đã trục xuất ông Nguyễn Văn Bé và người vợ ra khỏi Việt Nam với tội danh quy chụp là vi phạm luật pháp. Hệ thống báo chí CSVN cũng đã đi tin này với những điều thêu dệt, dựng đứng về vợ chồng ông Nguyễn Văn Bé cũng như xuyên tạc việc làm của Đảng Việt Tân.

Ông Nguyễn Văn Bé là công dân Úc và là thành viên Đảng Việt Tân. Vợ chồng ông về thăm Việt Nam ngày 9/4/2009. Mặc dầu chuyến đi thuần túy là do nhu cầu gia đình nhưng trong thời gian ở Việt Nam, ông Bé đã chứng kiến nhiều cảnh bất công của xã hội Việt Nam, cảnh dân oan biểu tình đòi công lý. Với lòng nhân bản và tính tích cực của một đảng viên Việt Tân, ông đã giúp đỡ hỗ trợ một số người và chụp hình dân oan biểu tình. Sau hơn 3 tuần, vợ chồng ông rời Việt Nam ngày 2/5/2009. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, công an cửa khẩu đã giữ lại không cho xuất cảnh, và tịch thu máy ảnh, điện thoại cùng các vật dụng cá nhân khác.

Khi khám xét máy ảnh, công an đã truy bức ông Bé về những tấm hình chụp cảnh dân oan biểu tình. Công an nói là ông đã vi phạm hành chánh vì đã chụp hình ở « khu vực cấm chụp hình ». Đây là một sự quy chụp tùy tiện của công an CSVN. Suốt hơn 2 tuần lễ sau đó, công an CSVN đã cách ly hai vợ chồng ông Nguyễn Văn Bé, đã thẩm vấn, hăm dọa khủng bố tinh thần hai vợ chồng ông Bé.

Với sự can thiệp của tòa lãnh sự Úc tại Sài Gòn, ngày 18/5/2009 công an CSVN buộc phải trả tự do cho ông bà Nguyễn Văn Bé để rời khỏi Việt Nam.

Trước sự việc nêu trên, Đảng Việt Tân bác bỏ tất cả những luận điệu xuyên tạc chụp mũ vô căn cứ của nhà cầm quyền CSVN lên các hoạt động của đảng Việt Tân và việc làm của ông Nguyễn Văn Bé. Việc ông Nguyễn Văn Bé chụp hình và thăm hỏi những dân oan khiếu kiện đòi công lý là việc làm nhân bản không thể bị gọi là « vi phạm luật pháp Việt Nam ».

Đảng Việt Tân cực lực phản đối hành vi khủng bố của công an CSVN đối với vợ chồng ông Nguyễn Văn Bé, cũng như đã đối xử thô bạo đối với các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam, đặc biệt là ngăn chận không cho họ đi gặp Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ trong tháng 5/2009 vừa qua. Việc Ủy Ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc lượng duyệt tình trạng nhân quyền tại Việt Nam vào ngày 8/5/2009 đã cho thấy thực chất của hành vi khủng bố tinh thần và đàn áp nhân quyền của chế độ CSVN.

Hôm nay, vợ chồng Ông Nguyễn Văn Bé đã rời Việt Nam về lại Úc. Nhưng những người mà ông Bé đã hỗ trợ giúp đỡ trong thời gian ở Việt Nam, những nhà dân chủ, những vị bất đồng chính kiến, những người tranh đấu cho quyền lợi của đất nước vẫn còn đó và vẫn còn đang bị trù dập bởi nhà cầm quyền CSVN. Đảng Việt Tân lên tiếng kêu gọi dư luận khắp nơi trên thế giới hãy quan tâm đến những người này, những nạn nhân của chế độ khủng bố Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

****

Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-1678

Ngày 18 tháng 5 năm 2009
Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng

2009/05/18

Giành Lại Quốc Hội Về Tay Nhân Dân (2): Đã Đến Lúc…

Đặng Vũ Chấn



Bây giờ, xin bạn hãy đặt mình vào vị trí của một Đại Biểu Nhân Dân tại Quốc Hội Việt Nam. Xin hình dung ra cảnh tượng như sau: hằng ngày, mình với tư cách Đại Biểu Nhân Dân nhận được hàng trăm thư từ cử tri của mình, nội dung yêu cầu mình lên tiếng tại QH đòi nhà nước ngưng ngay vụ khai thác Bauxít, ngưng để cho công nhân Tàu qua đóng trụ tại Tây Nguyên, đòi nhà nước phải công bố toàn bộ những hiệp ước biên giới và lãnh hải với Trung Quốc để xem nước Việt ta còn và mất bao nhiêu đất biển. Hằng ngày mình với tư cách đại biểu cũng nhận được hàng trăm đơn khiếu kiện của dân oan nhờ mình can thiệp bênh vực quyền lợi cho họ. Đồng thời cũng hằng ngày mình cũng nhận được hàng chục hàng trăm cú điện thoại của cử tri gọi thúc giục mình, hỏi thăm mình đã làm gì để đáp ứng nguyện vọng trên của họ. Và cũng hằng ngày ra khỏi cửa nhà (hay văn phòng đại biểu của mình), là thấy ngay hàng chục hàng trăm cử tri dân oan của mình đang chờ chực xếp hang đòi gặp mình để nhờ mình nói giùm lên tiếng nói oan khiên của họ đối với các cơ quan nhà nưóc đã xử ức hiếp họ.

Người đại biểu như bạn sẽ có cảm giác ra sao, và sẽ phải hành xử như thế nào? Bạn có thể sẽ thấy phiền hà nhưng bạn có thể né tránh các cử tri trên mà mình đại biểu cho họ được không?

Và bây giờ thử đặt mình vào vị trí từng loại đại biểu khác nhau :

Trường hợp thứ nhất, Bạn là một trong số rất ít đại biểu ngoài Đảng, có chút lý tưởng, thực sự muốn đại diện bênh vực cho người dân cử tri của mình. Nhưng từ trước tới giờ chưa dám lên tiếng trong Quốc Hội vì thấy rằng mình thân cô thế cô trong cả cái cơ chế Quốc Hội Đảng biểu này. Bây giờ có nhiều phần bạn sẽ có tự tin hơn khi thấy có cả một khối cử tri làm điểm tựa sau lưng mình khi mình nói lên tiếng nói của người dân như họ. Trường hợp bạn là một đại biểu Đảng viên có lý tưởng, tin rằng người Đảng viên Cộng Sản phải là người tiên phong đại diện cho người dân, đúng nghĩa là một cán bộ của dân, vì dân, do dân. Trước những kêu rên của nhân dân cử tri đến trực tiếp với mình như vậy, bạn sẽ khó mà còn có thể vẫn tự ru ngủ mình trong hoang tưởng là cái Đảng CSVN của mình đang làm tốt vai trò đại diện nhân dân. Là người vào Đảng vì lý tưởng, bạn sẽ thấy khó mà ngồi yên mà không làm cái gì đó cho nhân dân cử tri của mình, và từ đó bạn sẽ dễ trở về với nhân dân, thanh thản tâm hồn hơn và tự tin hơn khi dựa vào nhân dân như trường hợp 1.

Trường hợp bạn là người chỉ muốn được yên ổn sướng thân trong chức danh đại biểu nhân dân ngon lành được một số đặc quyền nho nhỏ hơn người dân bình thường, dù bạn ở trong hay ngoài Đảng. Bạn sẽ phải đối diện với sự cân nhắc: mình còn có thể được sướng thân yên ổn như trước đây không, trước áp xuất hằng ngày như trên từ cử tri nhân dân của mình. Những đặc quyền lợi bổng từ Đảng nếu tiếp tục theo Đảng có đáng để trả giá cho áp xuất từ cử tri của mình không. Giữa việc bị Đảng răn đe kiểm điểm cắt đứt mọi bổng lộc nếu mình nói lên tiếng nói của dân mình, và việc mình bị dày vò tinh thần trước áp xuất của cử tri mình nếu mình không làm tròn vai trò đại biểu nhân dân đúng nghĩa, cái nào nặng hơn? Giữa Đảng ở trên xa vời và nhân dân cử tri gần sát bên mình, nên chọn phía nào?

Trường hợp tệ nhất, bạn là một đảng biểu trung thành với Đảng, vì quyền lợi riêng nên phải bảo vệ Đảng bằng mọi giá trong vai trò đại biểu Quốc Hội, bạn cùng lắm có thể làm gì? Trốn chạy tránh né cử tri? Mà đâu có dễ khi phải dọn đi khỏi địa phương của mình và mất đi luôn tư cách đại biểu địa phương mình? Có nên gọi cảnh sát cơ động đến dẹp đám cử tri của mình với lý do họ phiền hà quấy nhiễu mình? Mà càng làm thế thì Đảng của bạn càng thua kiểu khác, vì với phương tiện thông tin toàn cầu xuyên thủng mọi bưng bít hiện nay, hình ảnh đại biểu Quốc Hội Việt Nam gọi cảnh sát công an đến xua đuổi dẹp chính các cử tri nhân dân của mình càng làm lộ rõ bản chất cơ chế dân chủ bịp bợm của chế độ CSVN. Thực tế ngay cả việc gọi cảnh sát công an đến dẹp dân oan, trù dập cử tri cũng không phải dễ, vì bạn không phải là ông Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên bộ Chính Trị, chủ tịch cơ chế Quốc Hội, nên bạn không phải là ưu tiên bảo vệ của công an.

Là một cá nhân đại biểu QH bình thường, bạn là cái mắt xích thấp nhất và lỏng yếu nhất vì ít được bảo vệ nhất của chế độ độc tài CS. Vì bạn là cấp gần với nhân dân nhất, vốn là thành phần bị trị và là công cụ rẻ rúng nhất của chế độ độc tài.

Với sự hình dung các trường hợp trên, người dân ta sẽ thấy mình không có gì để mất thêm nếu chuyển hướng tranh đấu, tập trung vào hướng qua các đại biểu Quốc Hội của mình. Mà cái được là triển vọng giành lại Quốc hội về tay mình để gia tăng phương tiện tranh đấu cho quyền lợi của mình một cách ôn hòa bất bạo động.

Đã đến lúc, ta tự đứng lên giành lại quyền làm chủ tập thể đúng nghĩa của mình.

Đã đến lúc, thay vì ngồi than van chửi rủa tính dân chủ bịp bợm của chế độ, người dân ta biến lộng giả thành chân, từng bước từng bước nhỏ tự xây dựng dân chủ đích thực cho đất nước và dân tộc mình.

Đã đến lúc, mỗi người dân nên tìm hiểu ai là người đại biểu Quốc Hội tại địa phương mình, địa chỉ, số điện thoại của người này để mình liên lạc tiếp xúc cho họ thực hiện đúng chức năng đại biểu quy định trong hiến pháp.

Đã đến lúc, ta phải thấy rằng chính ta có thể (yes, we can) mang dân chủ lại trong tầm tay của mình.

Đặng Vũ Chấn