2009/12/03

Sự thay đổi đã đến gần


“…Người Việt Nam không bao giờ chịu làm nô lệ. Người Tàu với Việt Nam hình như bao đời không ưa nhau. Dân chủ hoá, chỉ có các quan tham ở hai nước phản đối vì lo sợ mất tài sản, lo bị trả thù… Một khi lòng yêu nước trỗi dậy họ chấp nhận dân chủ hoá, thế là 100% dân Việt Nam một lòng giữ nước…”

I. Mở đầu:

Chưa bao giờ như bây giờ, số người quan tâm đến hiện tình đất nước ngày một đông, lan toả đến mọi tầng lớp nhân dân.

Có thể tóm lược: hiện ta có thể chống đỡ được Trung Quốc để khỏi trở thành như Triều Tiên, Miến Điện? Có phải chúng ta đang khủng hoảng nhiều mặt, thể chế hiện hành có thể chấn chỉnh để trụ được hay phải thay đổi triệt để mới mong có sức tồn tại và vươn lên?

Mặc dù trong kỳ Đại hội vừa rồi mọi góp ý đều không được lắng nghe, mọi người vẫn kỳ vọng vào đại hội sắp tới. Thời thế thay đổi, liệu tiếng nói của dân có giá trị gì? Xin hãy chờ xem!

II. Trung Quốc và Việt Nam

a. Nỗi sợ Trung Quốc:

Dù chỉ tiếp cận sơ qua, ai cũng thấy Trung Quốc thật đáng ngưỡng mộ: người đông vô kể, đất rộng như vô tận, thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú, những công trình xây dựng cũ mới thì đều đồ sộ đến mức khó ngờ. Sách nhiều vô kể, nội dung hay đến mức để đời. Qua lịch sử, khi loài người còn mông muội, Trung Quốc đã có nhiều phát minh…

Mấy chục năm nay, như có chiếc đũa thần, Trung Quốc vụt lên giàu có, nhiều ngành khoa học đạt mức thế giới, quân sự bùng phát. Trung Quốc như đang thách thức, như đang tranh giành ngôi đầu bảng thế giới.

Cái sợ hãi hơn là sợ não trạng con người Trung Quốc. Xem trong chuyện cổ, nhiều nghìn năm trước đến giờ, biết bao nhiêu gương mặt gian ngoan, mưu lược. Phụ nữ lại còn ghê gớm hơn, ngay cuối thế kỷ 20 mà Giang Thanh còn mưu mô làm Vua bà nước Tàu…

Các nhà phân tích kết luận: khi nàoTrung Quốc mạnh là Trung Quốc bành trướng. Bây giờ Trung Quốc đang muốn xuống Phương Nam. Cái cửa cần mở là Việt Nam, mà Việt Nam lại là cái gai khó gỡ.

Một nhà ngoại giao kỳ cựu đã chua chát: “Trung Quốc thì gian ngoan, mưu lược, còn chúng ta thì dại dột, cả tin. Các người đi trước và bản thân tôi đã nhiều lần bị họ lừa”. Chúng ta choáng ngợp, rồi tự ti, rồi lo sợ và cuối cùng bị khuất phục. Còn có ai đó bị bẫy sập để trở thành tôi tớ, xét cũng là điều dễ hiểu.

Trong lịch sử, Trung Quốc đã từng thôn tính nhiều đất đai, nhiều dân tộc để có được tầm vóc như ngày nay. Trung Quốc đã đô hộ Việt Nam 4 lần và cũng bị Việt Nam nhiều lần đánh đuổi.

Ngay gần đây, các vị cầm đầu cũng cho Trung Quốc những đòn đau nhớ đời: diệt Pôn Pốt làm tan cái tiền đồn phương Nam của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình phát điên lên gọi “Việt Nam là bọn côn đồ”, doạ và thực hiện “cho Việt Nam một bài học”. Những người tham dự cuộc chiến tranh biên giới xác nhận là về mặt quân sự Việt Nam ở thế thắng. Rồi Việt Nam đuổi người Hoa. Lẽ dĩ nhiên họ ra đi không thể mang theo nhà cửa, đất đai…

Ta đăng ký thềm lục địa có nghĩa là đòi xác lập chủ quyền ở Biển Đông. Ta mua tàu bay, tàu ngầm, ta quan hệ với các nước để có liên minh quân sự…Ta chờ đón những phản ứng mãnh liệt từ phía Trung Quốc nhưng cuối cùng cũng chỉ có vài pha “tàu lạ”, vài lần Trung Quốc bắt nạt ngư dân thế cô, giữa biển khơi.

Ta sợ vì ta yếu, vì ta không có lực lượng. Lực lượng của ta là lòng dân, sức dân. Ta lại đang đối xử với dân có thể nói là tàn tệ. Chính ta tiêu diệt sức sống của bản thân ta.

“Người ta mạnh vì anh quỳ gối” – có lẽ đúng. Trung Quốc không phải muốn làm gì thì làm. Hãy thức tỉnh, hãy can đảm, hãy chấp nhận mọi giải pháp, dù thế nào miễn là giữ vững được chủ quyền đất nước.

b. Về việc giao tiếp cụ thể với Trung Quốc:

Đây không phải là phân tích, đánh giá, kết luận, chỉ là những việc xảy ra gần đây, được liệt kê để bàn soạn, chiêm nghiệm:

1. Việc bô xít Tây Nguyên: không nghe nói gì đến việc khởi động, làm con đường sắt 300 km có độ chênh 70m, làm cảng, làm kho, làm bể chứa bùn đỏ. Nếu làm, không biết 5 hay 7 năm có xong không? Thế mà hôm nay đã làm nhà máy, cái trước chưa làm, cái sau đã làm.

Liệu người ta có mang những thứ cũ kỹ thải loại sang lắp đặt tại Việt Nam rồi sau đó sản xuất theo lối thô sơ, thành phẩm chuyển về bằng đường giao thông, còn môi trường thì không quan tâm. Thành một việc đã rồi và sẽ có bô xít “thổ phỉ” Tây Nguyên như than “thổ phỉ” Quảng Ninh!

2. 1000 năm Thăng Long Hà Nội và 2010, năm hữu nghị Việt Trung: Nếu ông Đào nói nhỏ với ông Mạnh “chuyện cha ông chúng ta xung đột đã có từ lâu, nay khơi ra làm gì, nó ảnh hưởng đến 16 chữ vàng. Chi bằng làm vừa vừa thôi. Chúng ta tập trung vào làm cái “Năm hữu nghị…” thế mới là thực sự củng cố mối tình của chúng ta. Làm to vào, thiếu tiền Trung Quốc tài trợ. Chả có cách nào để ông Mạnh không chấp hành.

Trong một năm ngắn ngủi, dân Hà Nội vừa nghe tiếng voi gầm ngựa hí, vừa nghe tiếng lanh canh chạm cốc.

Biết đâu đấy, đây còn là cái “cân tiểu ly” của ông Đào để xem câu đồn đại: “Người Trung Quốc ghét người Mỹ và người Nhật nhưng ghét nhất là người Việt Nam. Còn Việt Nam ghét nhất người Trung Quốc” đúng sai đến mức nào?

3. Mở rộng Hà Nội: Nhiều người nói, không biết gì, kể cả ông chủ tịch Hội quy hoạch có người nói không có căn cứ. Có người bạo miệng: Việt Nam bị người xúi dại.

Các lãnh tụ Cộng sản đều ít nhiều mắc bệnh cuồng vĩ: Liên Xô biến sa mạc thành vườn nho, táo; Việt Nam có đường dây 500 KV, có đường Hồ Chí Minh… và cái gì cũng thấy “nhất” Đông Nam Á. Ta không có đủ tiền, không có kỹ thuật; lúc ấy Trung Quốc xui làm gấp, cho vay tiền, chẳng lẽ mình từ chối! Thế rồi người Trung Quốc đưa phong cách Trung Hoa vào, rồi người ta vận dụng câu nói của Tôn Văn: “Ở đâu có dấu ấn văn hoá Trung Hoa là đất đai của Trung Quốc”. Ta mất hay còn?

Không hiểu sao Myanma cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại đi vào xóm núi. Việt Nam cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại mở rộng gấp 4 lần. Hay là người ta muốn Việt Nam thiếu hụt bối rối và hỗn loạn?

4. “Hãy gác tranh chấp, hãy cùng nhau hợp tác khai thác”: Khẩu hiệu thật hay. Tôi tin là Trung Quốc đã đọc truyện Trạng Quỳnh, sẽ áp dụng mưu Trạng Quỳnh đối với bà Chúa Liễu trong chuyện bà Chúa có ruộng, Trạng Quỳnh có công trồng tỉa…Ta lấy lực đâu mà cùng khai thác? Cử ai đến cùng quản lý thì chắc một tuần là họ sẽ trở thành người Trung Quốc.

Nghĩ đến con đường huyết mạch Biển Đông với tài nguyên phong phú cũng thấy lo, cũng thấy Trung Quốc quyết liệt là dễ hiểu.

5. Việc đặt quan hệ đối tác giữa các tỉnh của hai bên biên giới: Thật là tốt đẹp! Ta rất cần việc này vì ta còn sản xuất nhỏ lẻ, việc quan hệ giữa hai tỉnh sẽ giản dị hoá quan hệ giữa hai quốc gia. Có tỉnh họ còn mạnh không kém gì nước ta. Liệu Trung Quốc có âm mưu chia cắt, thâm nhập rồi thôn tính từng phần? Các tỉnh của chúng ta có sức mấy mà chống đỡ được!

6. Người ta quan tâm đến Đại hội sắp tới sôi nổi hơn nhiều so với Đại hội đã qua. Quan tâm đến nhân sự đại hội xem có ai thân Tàu, ai là người của Tàu… coi đó là cái thước đo đất nước còn mất đến đâu.

c. Biết mình biết người:

Người xưa có câu: “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Người đời nay căn dặn: “Có những người sau khi gặp họ, bắt tay rồi phải xem lại tay ta có thiếu ngón nào không?”.

Việt Nam hiện nay làm việc gì cũng phải nghĩ đến Trung Quốc. Đó là một chỉ dẫn quan trọng. Đó là “biết người”. Có lẽ, mọi người Việt Nam cần đào sâu suy nghĩ: “Mình đứng cương vị gì, mình bảo vệ đất nước ra sao trước Trung Quốc?”. Còn nếu chấp nhận “nghèo thì hèn, mạnh thì được, yếu thì thua”, và hơn thế nữa “Cứu nhà hơn cứu nước! Cứu thân mình hơn cứu Chúa!”, thì coi như mất nước. Đó là “biết mình”.

III. Hãy nhìn lại mình

Ta luôn nói ta có nhiều thành tích. Nhưng nhiều năm qua ta vẫn bị xếp vào danh sách các nước nghèo nhất. Ta nên bình tĩnh xem lại chính mình. “Không nghe anh nói, hãy nhìn anh làm”.

Ta hãy có cái nhìn khái quát hiện tình trên một vài mặt:

a. Tam nông:

Trong tam nông có quá nhiều bê bối, người ta cho rằng do ta giữ quá lâu đạo luật: “đất đai là của toàn dân, do nhà nước quản lý”.

Đất đai sản xuất không có sở hữu rõ ràng, không mua, không bán được, không gom góp để đủ sản xuất lớn được, buộc phải sản xuất manh mún, kỹ thuật thô sơ, năng suất thấp, không chống được thiên tai nên vẫn đói và chán nản. Lại cộng thêm sinh đẻ không kế hoạch, giáo dục quá kém, không có tay nghề, nhân mãn và thất nghiệp tràn lan. Di cư tự do, không có việc làm, tệ nạn xã hội và phạm pháp phát sinh không ngăn nổi.

Nhiều nơi đã tự phát phá vỡ thế bí này. Phong trào “dồn điền đổi thửa” đã bước đầu đưa sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn hơn, tập trung hoá. Nhiều người nông dân góp tiền mua chung máy móc nông nghiệp. Có huyện tổ chức cho các nhóm nông dân vay tiền để mua ô tô, để đưa sản phẩm ra thành phố bán. Đã hé lộ những “ông Kim Ngọc đời mới”. Họ sẽ vứt bỏ đạo luật nói trên, rồi họ tạo ra nền sản xuất mới.

Nhiều người băn khoăn: công nghiệp hoá nông nghiệp bao nhiêu nước đã làm, có gì bí ẩn đâu sao ta không làm?

Có người tạm bằng lòng với lời giải thích: Trung Quốc chưa làm thì ta chưa làm; nông dân đông lắm, nguồn gốc của mọi biến động mà lịch sử đã ghi, phải giữ con chủ bài ruộng đất, như cái “mũ kim cô” mới mong an toàn trước họ… Nông dân làm chủ ruộng đất, những người có kỹ thuật, có vốn sẽ áp sát, đẻ ra một liên minh mới, thế thì lãnh đạo sao được?
Tình trạng này chính là nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện đội quân dân oan mất đất mất nhà ngày càng đông đảo trên phạm vi cả nước. Nguy cơ đảng mất nông dân đã là nhãn tiền.

Một hệ quả không ngờ ập tới: đất đai do nhà nước quản lý, thế là các cấp chính quyền thao túng. Đầu tư nước ngoài, đô thị hoá buộc phải có đất để phát triển. Thế là đẻ ra: thu hồi, định giá, đền bù, giải toả… Tiền nong như nước, tham nhũng trước nhỏ, sau to đến nay như bệnh không chữa nổi. Cái dây trói nông dân trở thành cái dây thít cổ các quan tham, làm điêu đứng Đảng và Nhà nước.

Hãy trả ruộng đất cho nông dân, mở đầu việc công nghiệp hoá nông nghiệp.

b. Không phát huy vai trò cá nhân, không dùng người tài, hội họp quá nhiều:

Tôi thuộc gia đình viên chức chế độ cũ, tôi lại có điều kiện tiếp xúc với bộ máy nhà nước vào các năm 1945, 1954, 1975 thế kỷ trước. Tất cả họ, ngành nào, cấp nào đều thành thạo nghiệp vụ, hiểu hết chức trách, cấp nào có bằng cấp học vị cấp ấy. Họ cũng có các thiếu sót như ta hiện nay nhưng dứt khoát là không có tình trạng: không làm được việc.

Tôi thấy qua các bước thăng trầm của đất nước: giành được độc lập, chiến tranh và xây dựng đất nước…bao giờ cũng gắn thành công hay thất bại vào một số người hay một người đứng đầu. Hiện nay ta mờ mịt: không biết việc này từ đâu đến, vì sao phải làm, luôn luôn ứng phó, luôn phải sửa sai và cũng không thiếu giấu giếm, đổ thừa.

Tôi lại thấy ở các nước, các nhà khoa học, các nhà bác học, các chuyên gia họ tập hợp theo ngành vào các tổ chức phi chính phủ. Họ theo dõi tình hình, họ tranh luận, họ đưa ra các kiến nghị, các biện pháp… Có tổ chức được nhà nước tài trợ. Ngoài ra các Viện hàn lâm, các viên nghiên cứu của các trường đại học cũng tham gia vào việc phản biện và đề xuất.

Không phải ta thiếu người để xây dựng ra bộ phận này nhưng chính là ta không biết làm, không chịu làm. Bộ phận lãnh đạo chính trị thì phe cánh, tranh chấp, không có người tài. Bộ phận khoa học kỹ thuật thì bị chèn ép. Người giỏi bị loại ra ngoài vòng, còn bị cấm đoán nên giữ miệng, kín tiếng. Còn bộ máy nhà nước thì nhiều bất cập, nhiều xấu xa, ai cũng biết.

Nguyên nhân tụt hậu đã rõ, bệnh đã định nhưng thuốc chưa có. Có lẽ phải bình tĩnh chấn chỉnh từ lãnh đạo, sao cho có người có tâm, có tầm để họ quy tụ các tài này, để họ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước.

Sao nhiều phòng họp thế? Sao người ta cứ thay đổi kiểu ghế, mỗi ngày thêm oai vệ. Hôm nay Quốc hội họp, thấy các tay ghế to quá, chiếm nhiều diện tích và phản cảm. Thế rồi hội họp liên miên, cổ cồn, cà vạt, trang trọng không biết có cái gì mới, hay là người ngồi đấy mà hồn lang thang nơi đâu?

Cũng cần xem lại câu: “Đảng bao giờ cũng đúng, tập thể bao giờ cũng sáng suốt”. Cho nên lấy việc hội họp làm chính để rồi chỉ ăn và đi họp, còn cái sáng suốt không biết tìm ở đâu!

Có lẽ ta phải thay đổi: đề cao vai trò cá nhân, con người phải được đào tạo lại, phải đánh giá khác đi, phải sử dụng khác đi… có nghĩa là tất cả phải thay đổi.

Ông cha ta nói: ‘Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Nguyễn Mạnh Tường nói: “Tập thể là cái vô nghĩa”. Bà Hồ Xuân Hương thì bốp chát hơn: “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông. Nó bảo nhau rằng ấy ái uông”. Còn Xê khốp thì chế diễu: “Những cái đầu rỗng tuếch ngồi sau những bộ bàn ghế bằng gỗ bồ đào”.

c. Xây dựng kinh tế các nhóm lợi ích:

Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ… Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam… Hoá ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động… thì tất cả của nước ngoài.

Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thoả việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.

Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu “nhất Đông Nam Á” như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu… Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…

Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho “chính trị là thống soái”, rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố HCM và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố HCM, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì “treo”, không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề… Các việc này người ta làm ở Châu Âu từ thời kỳ Napoléon. Cái “Đảng bao giờ cũng sáng suốt”, “Tập thể bao giờ cũng đúng” đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô “Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hoá, công nghiệp hoá!”

Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA. Cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?

Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân:

Khi chúng ta còn bao cấp thì Philippin, Indonexia đã đi vào phát triển kinh tế. Các nhóm gọi là “nhóm lợi ích” đã ra đời. Nó là mối liên kết của những người kinh doanh, sản xuất với các người nắm quyền, họ đồng loã quyết định mọi việc, từ đó rút ruột nhà nước, chiếm đoạt tài sản quốc gia… Có khi đó là gia đình các nguyên thủ quốc gia như: Tổng thống Mác-cốt, tổng thống Su-hác-tô phải ra toà và ngồi tù là thế.

Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai, Công ty kia là của ai. Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này, diệt cái kia vì hối lộ… nền sản xuất bị chết từ trong trứng.

Indonexia, Philippin, Việt Nam có chung một bệnh. Philippin trước đây còn mạnh hơn ta mà nay suy thoái. Dù có nền dân chủ sơ khai mà không vực được nền kinh tế lên được.

Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.

Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che giấu.

Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.

d. Hoàn toàn thất bại trong lĩnh vực tư tưởng, văn hoá:

Tôi bị bất ngờ: cùng một lúc nhiều người mà Đảng coi là tinh hoa, là tiêu biểu cho nền tư tưởng, văn hoá xã hội chủ nghĩa, đều lên tiếng phỉ báng Đảng. Có người đốt tác phẩm rồi nhịn ăn mà chết. Có người quên hết mình đã có những gì mà chỉ nhớ bài thơ, bài hát đầu đời khi chưa biết Đảng. Có người sau 30.4 gặp lại bạn văn thời xưa đã khóc mà nói là mình đã đóng kịch bao năm… Tóm lại họ tự nhân mình là “văn nô”. Trần Đức Thảo thì ra đi trong đau khổ; Nguyễn Khắc Viện thì giữ khoảng cách đầy kiêu hãnh; còn Nguyễn Mạnh Tường thì lạnh lùng rời bỏ. Họ là người được thế giới ngưỡng mộ, nhân dân yêu mến.

Triết học, văn học, nghệ thuật, các khoa học khác để lại là tác phẩm. Tác phẩm gắn với con người. Thế là ta không còn tác phẩm, không còn con người. Thế là ta mất hết.

Rồi đây các hồi ký, các di cảo của nhiều người còn nói lên nhiều nữa: Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên…

Cụ Tô Hoài theo Đảng, lúc Tây Bắc, lúc đồng bằng, ca ngợi Đảng hết lời, đột nhiên cho ra Ba người khác. Nếu cụ còn loại này, xin cụ kịp thời cho ra mắt bạn đọc để Đảng ghét cụ, cụ qua đời sẽ lờ cụ đi, mọi người sẽ đưa cụ đi an nghỉ nơi có côn trùng nỉ non, có hoa có lá, có trời xanh nước biếc và sẽ để bên cụ “Dế Mèn phiêu lưu ký”. Cụ chậm chạp, Đảng vẫn mến mộ cụ. Cụ mất, sẽ đưa cụ vào Mai Dịch, rồi con cháu cụ xuất bản di cảo. Lúc ấy các vị nằm quanh cụ sẽ đánh đòn “hội chợ” cụ và mọi người sẽ cười cả Đảng, cả cụ, một trận cười vỡ bụng.

Thời Pháp thuộc, 80 năm mất 20 năm bình định, gần 10 năm vì chiến tranh thế giới, dân ta chỉ có 20 triệu… Lao động tay chân, hỏi lấy gì mà người Pháp xây dựng nổi Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, đường xuyên Việt, đường sắt Bắc Nam vươn tới Vân Nam… Phố Tây Hà Nội thiết kế cho xe ngựa, nay ô tô như kiến, không tắc, không ngập. Nhà hát lớn, Cầu Du me, phủ Toàn quyền, các công viên, bảo tàng sau hơn 100 năm vẫn bền vững, vẫn đẹp… Đẹp mà lại hợp lý… Còn ta, cũng cao, cũng to, cũng rộng… Còn hơn các cái cũ, nhưng không gây được ấn tượng nào. Vào trong, đi, đứng, làm việc gặp nhiều bất tiện. Đó là vì, đây là một ngành khoa học không phải có tiền là cứ xây, vừa xây xong thì ngập lụt… Một nghiên cứu nói rằng: từ xa xưa, từng lớp thống trị nào cũng xây dựng các công trình đồ sộ, coi như biểu tượng của chế độ. Ta có thể cũng ở vào tình thế này. Các tỉnh, huyện, các ngành nào của ta cũng có não trạng này. Kết luận này có cơ sở ở chỗ, người ta coi hình thức hơn nội dung, coi nhà cửa, phòng họp, hội trường quan trọng hơn con người. Con người không cập nhật với nhiệm vụ, với trách nhiệm. “Quan trí” cần phải nâng cao là lời nói cửa miệng của người dân.

Gần đây rầm rộ lên cái gọi là cấm phản biện công khai, rồi quản chặt báo chí. Người ta kêu trời vì sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Vấn đề quá dài, chưa thể đề cập nhưng phải nhận là đạo đức, là một mặt đời sống tinh thần, nó nở hoa hay méo mó cùng một nguyên nhân, cùng một kết quả với văn học, nghệ thuật.

Nguyên nhân của sự sa sút quá đáng của mặt văn hoá, tư tưởng của ta có phải là kết quả của sự lãnh đạo của Đảng: mọi việc phải theo ý lãnh đạo, một hình thức toàn trị về tinh thần, tư tưởng? Nó thui chột mọi sáng tạo cá nhân. Trước đây còn lờ mờ, nhưng nay đã lộ rõ.

Trước đây, văn học, nghệ thuật có phong trào, có chủ soái, có đấu tranh, có ngành phê bình như thơ mới chủ soái là Phan Khôi, Tự lực văn đoàn với Khái Hưng, Nhất Linh, họ sáng tác, họ tranh luận, họ phê bình… Có phong trào rộng khắp trong nhân dân. Thật kỳ lạ! Đó mới là thời kỳ nở rộ về văn hoá, lại xuất hiện trong thời kỳ thuộc địa, dân lại 95% không biết chữ. Phải chăng văn học, nghệ thuật được tự do mới bay bổng? Cái gọi là “tính Đảng”, “lề phải”, “lề trái” trong văn học nghệ thuật, trong thông tấn báo chí là thuốc độc. Có khác gì người uống rượu khen rượu làm cho họ hưng phấn, họ mạnh lên.

đ. Khủng hoảng lãnh đạo:

Lịch sử đã chứng minh, một đất nước vượt lên đều gắn liền với một cá nhân kiệt xuất. Napoleon khi đã là Hoàng đế, triệu tập chuyên gia để làm luật dân sự, sự hiểu biết của ông vê luật làm mọi người ngỡ ngàng. Ông giải thích: khi còn trẻ, là trung uý, đã bị phạt giam, trong phòng giam có sách, ông đọc thế rồi ông nhớ. Đạo luật “Sổ lao động” …là của Napoleon tồn tại đến giờ. Hồ Chí Minh, Lý Quang Diệu, Lý Thừa Vãn, Đặng Tiểu Bình, Tưởng Kinh Quốc đã minh định kết luận trên.

Với cái não trạng, cái lề lối làm việc của chúng ta hiện nay không thể chọn được người tài; ta lấy mục tiêu giữ vững chuyên chính, ai trung thành với ta thì ta chọn, chọn người thân cận, chọn người quanh ta… Người tài thì ở khắp nơi, họ đâu phục ta, quý ta, tin ta mà theo ta, rồi có theo ta lại nhiễm những thói xấu của ta, họ cũng thui chột. Cách của ta chỉ phù hợp với một chế độ đóng cửa, nghĩa là hàng chục năm mọi việc cứ năm sau như năm trước: không xuất cảnh, không Internet, không giao lưu, du học nước ngoài… mọi người câm nín. Giá Đảng Cộng sản Việt Nam giữ như Triều Tiên, Cu Ba…ông Fidel nghỉ, ông Ra-un thay; Ông Kim Nhật Thành mất, Ông In làm, có phải nhẹ nhàng, ăn chắc không!

Có điều rõ ràng nhất, chưa thấy một ai trong số 15 người khổng lồ, tỏ ra có các điều kiện của một chính khách: thiếu nhìn xa, trông rộng, không phân tích được tình hình để có kế sách phù hợp, làm hỏng rồi chữa, nói mãi mà không làm được. Thực ra chưa ai chuẩn bị cho mình thành chính khách, chưa ai đi theo một chính khách đích thực để làm học trò…

Ông Ôbama nói dài, viết dài, xem kỹ lại là các chuyện thời thơ ấu, các điều răn dạy làm người. Ông đi khắp nơi để bàn về hoà bình, sao không còn thấy ông lớn tiếng dài hơi… Cương lĩnh của ông chỉ có 3 chữ: “Phải thay đổi!”. Ông đẩy mạnh hoà bình, dân chủ bằng diễn đàn toàn cầu, bằng lời góp ý với các nước. Có gì rầm rộ đâu! Ông biết rằng chỉ có hoà bình mới ngăn chặn Trung Quốc làm liều, chỉ có dân chủ, nhân quyền người dân Trung Quốc mới đổi thay số phận. Ông không đến Việt Nam nhưng những việc ông làm là nỗi khát khao của Việt Nam: dân chủ và hoà bình. Dân chủ trong ôn hoà mới mong tránh được kiếp chư hầu. Ông Obama được giải thưởng Nobel là đúng. Vừa bước lên sân khấu nhưng giọng hát, lời ca đã đi ngay vào lòng người. Ông Ôbama chuẩn bị cuộc đời mình, cuộc đời của một chính khách xuất sắc, động thái đó hiển hiện ngay từ ngày đầu cầm quyền.

Hôm nay, ai cũng nhận định là tình hình đất nước nhiều bê bối. Nhiều người cho rằng xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng mà cụ thể là từ Bộ chính trị.

Nói cho rõ hơn là từ sau WTO, nếu ta cởi mở về chính trị thì tình hình có thể khác đi, nhưng ta vẫn giữ nguyên nếp cũ. Ngày hôm nay ta ngẫm lại xem, ta vẫn như xưa. Vẫn một nền nếp hội họp, ban hành các quyết định rồi cái thì làm được, cái thì làm được một nửa, có cái nói mà không làm hoặc nói một đàng làm một nẻo… Vẫn dài dòng, thiếu sức sống, cũng ngày càng thêm nặng nề. Nặng nề đến mức tự Bộ chính trị phải kêu ầm lên là suy thoái, nói cả đến việc sẽ bị “tự diễn biến” từ trong nội bộ. Có người nói, nền nếp lãnh đạo của ta 60 năm rồi vẫn thế.

Tình hình chính trị như vậy là do sức sống của Bộ chính trị. Bộ chính trị không có một người gọi là chủ soái, nhóm này hôm nay thiểu số, mai lại đa số, nên có người nói một chính thể mà hai đường lối… mà lại không giữa chừng thay được như người ta, phải chờ đến Đại hội. Đến Đại hội vẫn nhùng nhằng như vậy. Thế là suy thoái dài dài, ta tụt hậu sau các nước cùng cảnh ngộ trước đây nhiều chục năm.

Nói riêng từng người, đến hôm nay không một ai gây được cảm tình từ trong nhân dân, ấy là chưa kể đến có người bị người đời dè bỉu. Kể cũng tội, nhiều người được Cụ Mười, Cụ Anh tôn lên, mà hai Cụ nào có biết ai là người tài. Các Cụ có cái chuẩn là kẻ nào bảo được là trung thành với chế độ, đó là chuẩn số 1. Ai làm cũng được, nên đã có chức, có quyền là tự tin ngay. Đầy tự tin mà kém cỏi thì đúng là: “giao quyền hành cho kẻ kém cỏi, khác nào giao súng cho thằng điên”. Choáng ngợp trước quyền hành, giữ quyền hành đến cùng, nhưng lại không làm được việc, lại không tự giác thừa nhận, do đó bưng bít, tránh né. Và cuối cùng là nội bộ mâu thuẫn, nội bộ đã loại trừ nhau…Đất nước gánh chịu tất cả.

Đó là một cơ chế xây dựng quyền lực lạc hậu, nó kìm hãm sự phát triển. Cơ chế này, lúc này lại phải đối mặt với hai thách thức, cùng một lúc ập đến: ta phải hoà nhập với thế giới phương tây để phát triển. Trung Quốc thâm nhập nước ta, mối đe doạ ta phải phụ thuộc họ đã quá rõ ràng. Bộ máy lãnh đạo tối cao của ta như đang bó tay, thế là ta vừa lạc hậu, vừa nô lệ như một sức nặng đè ta nghẹt thở. Bộ máy lãnh đạo tối cao lúc này như đang nghĩ quẩn, trong một tình thế quẫn.

Tôi không hề oán giận các vị. Vì lẽ con người bị hoàn cảnh chi phối, nhào nặn là lẽ thường. Tiếc rằng các vị không ai được bồi đắp để trở thành chính khách, có quyền lại không có một cơ chế ràng buộc, kiểm soát thì tất yếu xảy ra tình hình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân.

Có lẽ lúc này tìm cách để thay đổi, vớt vát lại. Cái gì cho bản thân, cái gì cho đất nước là con đường tốt nhất.

Gần đây việc dùng bạo lực tràn lan: bắt bớ, giam cầm, xét xử các nhà dân chủ, với các tội gán ghép; xô xát, đàn áp giáo dân, phật tử, tu sĩ; bịt miệng, mạt sát các trí thức, bắt bớ, xét xử các nhà báo… Có nghĩa là đánh tất cả. Không hiểu nhà nước, Đảng dựa vào ai để tồn tại? Hay là như người ta nói: khi sắp tan rã thường một chính quyền… tăng cường đàn áp?

Dựa vào công an để tồn tại? Không được, vì một khi trong Bộ chính trị đang có sự chia rẽ thì Công an nghe ai? Công an thi hành các mệnh lệnh đơn lẻ thì được, nhưng đại cục, lúc có biến động lớn thì không thể tin được. Nhân dân biểu tình, ngực đeo biển “Tôi là nhân dân”, tay họ cầm hoa… Liệu những người cầm súng có chúc mũi xuống đất như ta đã thấy khi bức tường Berlin bị rỡ bỏ không? Đó là cảm nhận của đông người.

Dựa vào Trung Quốc để tồn tại? Tôi chưa hiểu dựa như thế nào, không biết kịch bản Trung Quốc cứu sự đổ vỡ của Đảng và chính quyền Việt Nam ra sao. Tôi chỉ thấy con đường duy nhất: tồn tại trong thân phận tôi đòi cho Trung Quốc. Không thể nói là tồn tại mà phải nói là đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ.

Gần đây đã lộ rõ một đường lối của Phương Tây: cụm lại để kiềm chế Trung Quốc. Dù có nhiều điều không bằng lòng họ vẫn hồ hởi với Việt Nam, vì Việt Nam còn yếu, nhưng lại vì “Ai giữ được Việt Nam, người ấy chiếm được thế giới!”. Có sai lầm không khi nói: Trung Quốc là một nước có nhiều cà rốt, một nước đã từng dạy Việt Nam về lễ nghi, về cách ứng xử nhưng sao lại dùng cách lấn át, lăng nhục, cướp bóc và tàn sát…Nếu Trung Quốc thật khoẻ còn khá, nếu chỉ là bề ngoài khoẻ thì khả năng Trung Quốc nắm phần thua là điều không thể không xẩy ra.

Trước mắt 15 người khổng lồ, cái bàn cờ độc lập và dân chủ đã bày rõ: đi với Trung Quốc thì mất nước, còn Đảng, còn quyền nhưng lại là đầy tớ; đi với Phương Tây thì mất quyền nhưng còn nước, chỉ mất thân phận tôi đòi. Mà đi với Phương Tây thì phải dân chủ, dân chủ thì phải phát động quần chúng, giao quyền cho quần chúng. Một sự lựa chọn khó khăn cho người này, rõ ràng, dứt khoát cho người kia.

Có thuyết đu đưa giữa hai thế lực và hình như chưa đâu áp dụng - một thuyết đưa hai thằng thông minh vào cuộc có lợi cho thằng dốt! Thế thì chúng ta chọn ra 2 người đi, đưa ông Ôbama và Ông Hồ Cẩm Đào vào cuộc để rồi cử một nhà ngoại giao Việt Nam đứng giữa để thu lợi cho Việt Nam. Thuyết đu đưa giữa 2 thế lực chỉ là cái thuật trong việc tranh chấp cụ thể, không thể đưa thành thuyết nọ, thuyết kia. Ông đại sứ Việt Nam ngồi vào HĐBA Liên Hợp Quốc tuyên bố xanh rờn: “Không phụ thuộc vào nước lớn”, trong khi Trung Quốc lấn át ta bằng đổ máu, bằng giành giật tài nguyên… Thật là cười ra nước mắt.

Đất nước lạc hậu kéo dài đến gần nửa thế kỷ, các việc ta làm đổ bể, mất mát nhiều hơn là được. Thế giới đang biến động mà ta chập chững, loay hoay. Con đường đi lên chỉ thấy khó khăn. Phải chăng ta bị ý thức hệ kìm hãm? Phải chăng chúng ta chỉ là người trưởng thành trong chiến tranh và bao cấp? Phải chăng hoàn cảnh quay lưng lại với chúng ta, hoàn cảnh đã vượt chúng ta, hoàn cảnh đã đào thải chúng ta?

e. Sự thay đổi đã đến gần:

Hay là dân chủ hoá đã đến gần. Hay đúng hơn: Dân chủ hoá là có thể. Xét trong phạm vi trong nước, nếu một lòng để Trung Quốc sai khiến thì coi như mất nước; mất một lúc cả độc lập, tự do, hạnh phúc. Có nghĩa là ta một lúc gạt bỏ lịch sử 4000 năm. Hậu quả là sẽ có biến động, bạo động, ly khai, nổi loạn ở trong nước… Đó là chắc chắn. Không cần biện luận. Đừng hòng có ai sống yên thân.

Xét trong phạm vi thế giới, cái hoạ Trung Quốc coi như cái hoạ toàn cầu, thiên hạ đã dứt khoát như thế. Có các động thái họ cụm lại, cụm để hạn chế Trung Quốc. Mà hạn chế Trung Quốc trước mắt phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông Ôbama đi khắp nơi rao giảng hoà bình, cố gắng thu hẹp các lò lửa chiến tranh. Ông đang bàn thảo để khôi phục lại các căn cứ quân sự Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương. Thế là vừa lên sân khấu, khúc ca đầu tiên đã cuốn hút lòng người. Giải Nobel của ông không phải là vội vã mà là đích đáng. Các nước Asean lôi kéo Trung Quốc vào bàn đàm phán để hai bên cùng có lợi, ai ngờ việc đầu tiên lại là vấn đề Biển Đông. Thế là lời ông Dương Danh Dy: “phải chống Trung Quốc nhưng Việt Nam đừng chống một mình”. Thế giới đã nghe theo. Lời ông đúng là: “Bụt chùa nhà không thiêng”.

Dân chủ hoá lúc này là có thể. Người Việt Nam không bao giờ chịu làm nô lệ. Người Tàu với Việt Nam hình như bao đời không ưa nhau. Dân chủ hoá, chỉ có các quan tham ở hai nước phản đối vì lo sợ mất tài sản, lo bị trả thù… Một khi lòng yêu nước trỗi dậy họ chấp nhận dân chủ hoá, thế là 100% dân Việt Nam một lòng giữ nước. Các nước trên thế giới: Âu, Mỹ, Asean sẽ hoan nghênh vì trút khỏi nỗi sợ Trung Quốc. Trung Quốc đang bối rối nội bộ, đang che chắn chống phản kháng của thế giới, làm gì có cuộc “động binh” nào chiếm Việt Nam. Cái chủ bài là khống chế được 15 người khổng lồ, nay họ ra đi, thế là hết phép. Truyền thông thế giới nói ít đến khó khăn của Trung Quốc là chưa thoả đáng.

Nói riêng 15 vị khổng lồ, đến ngày hôm nay khi họ đã đánh tất cả các từng lớp nhân dân, công việc thì bê bối, nội bộ chia rẽ đến phải bộc lộ để dân biết, cố gắng bày ra việc này việc nọ, nhưng còn ai tin, ai nghe? Chứng nào, tật nấy: cứ toàn trị, cứ cấm đoán… đến nỗi biểu tình chống hàng Trung Quốc cũng chờ lệnh…Tự nhiên trong cuộc thi thể thao trong nhà lại dám liệt Đài Loan thuộc Trung Quốc, ngang Hồng Kông, Ma Cao…

Can đảm chấp nhận dân chủ hoá là con đường duy nhất. Có bàn cãi chăng chỉ là ở điểm: chuyển đổi như thế nào.

IV. Đảng tách ra làm hai – Một cuộc chỉnh đốn đảng đích thực

a. Hãy chấm dứt một cách hiểu sai lệch:

Cựu tổng thống Bin Clinton nói ở đại học Thanh Hoa: “Phản biện sinh ra chân lý”. Hai phe có những ý kiến khác nhau, đưa ra tranh luận để tìm ra ý kiến đúng nhất, hai bên chấp nhận và cùng nhau hợp tác thực hiện, làm cho mọi việc tốt lên.

Ở ta, nhiều người cho dân chủ là tranh luận để thắng thua… Dân chủ chỉ có đối lập mà không có đồng thuận, không có hợp tác và chung trách nhiệm, chữ đối kháng chữ đa nguyên coi như cấm kỵ ai nói tới điều này là phạm tội hình sự!

Đảng tách ra làm hai là làm theo đúng tiêu chí trên: chân lý, phản biện, đồng thuận, chia sẻ trách nhiệm, cùng hợp tác, cùng thực hiện chân lý, cùng phục vụ nhân dân. Bài học Thái Lan đã chỉ rõ: dân chủ là đấu tranh để tìm ra chân lý, cái phải đạt là đồng thuận, đồng thuận ở Thái Lan đến chậm chạp quá, khi đạt được phải trái, đúng sai, họ sẽ tiến lên. Bảo rằng họ đánh nhau có nghĩa là đa đảng không tốt. Đó là do không hiểu thế nào là dân chủ đa nguyên.

Đảng tách ra làm hai là Đảng vẫn còn, Đảng chấm dứt độc tài, độc đoán, độc quyền chân lý…Đảng sẽ là đảng của dân tộc, của nhân dân một cách đích thực. Đảng mạnh lên, đất nước phồn vinh, dân tộc có chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

b. Chọn mô thức Đảng tách ra làm hai là một bó buộc:

Toàn trị thì tha hoá. Tha hoá thì suy yếu đi đến tan vỡ. Nói rằng “Đảng tự vỡ”, hôm nay không một ai phản bác nhưng tự vỡ như thế nào thì mọi người ngẩn ngơ.

Có cái gì như thầm lặng nói lên là Đảng ta tiếp tục cầm quyền là khiên cưỡng; không ai trong nhóm cầm quyền có những tố chất của một chính khách; toàn Đảng hiện nay lỏng lẻo đến mức chỉ còn là những người tham quyền. Bao nhiêu năm vẫn giữ đất nước trong vòng lạc hậu; nếu để tiếp tục cầm quyền thì nhất định nước ta sẽ bị nước ngoài thôn tính…Vì thế việc thay đổi như là một đòi hỏi sống còn.

Rà soát lại thì không còn hình thức chuyển đổi nào đã có tiền lệ trong lịch sử: không có phe đối lập để làm việc thay đổi; không có phe đối lập có thể dựa vào nước ngoài để gây ra một cuộc chuyển đổi, nếu có chỉ là một cuộc chuyển đổi để mà mất hết. Trong đội ngũ cầm quyền không có một người, một nhóm nào dám đứng lên để gạt bỏ đối phương để một mình lãnh đạo đất nước; lại không có thể có cuộc xâm lăng quân sự để có người anh hùng giải phóng dân tộc rồi làm vua, làm lãnh tụ…

Còn có những bó buộc khác: Đảng phải tập trung những người ưu tú của dân tộc. Hiện nay thành phần này và như gần hết nằm trong Đảng nhưng bị lép vế với bao nhiêu nỗi niềm đắng cay. Đảng là Đảng cầm quyền, những người có khả năng này là những người nằm trong Đảng, một khi cờ đến tay họ thì gió có yếu, cờ vẫn bay. Chúng ta còn có bao nhiêu người “cộng sản tử tế”, người vào Đảng để phục vụ nhân dân mà không hề băn khoăn cái gọi là ý thức hệ?

Nếu trong việc thực hiện, làm thật khéo léo, được mọi người ủng hộ, người muốn phản đối cũng thấy không có cái gì hơn đành tặc lưỡi chấp nhận, kẻ thù bên ngoài không có chỗ, không có cái lý để can thiệp, và cái yêu cầu nêu rất khiêm tốn, cần đạt được một điểm gốc chứ không đòi hỏi nhiều vì biết rằng dân chủ hoá là một quá trình, còn nhiều gian khổ… Có thể tóm lược các yêu cầu:

Có từ hai đảng, hai đảng kém, hơn hẳn một đảng xấu. Hai đảng thì có phản biện, có công khai, 4 năm một lần dân có thể thổi còi phạt góc, phạt 11m đến truất quyền thi đấu. Nhìn dần quen dần với vai trò làm chủ của mình, chính nhân dân hoàn thiện dần thể chế, có tham khảo những góp ý của các nhà chính trị, văn hoá để đi tới một nền dân chủ dần dần vững chắc.

Đảng viên là người lãnh đạo, đề ra quốc sách, ứng phó mọi cái… Thế thì phải thuộc về trí thức; mà trí thức ở nhiều lĩnh vực, với cái ý nghĩa trí thức là người giải quyết được mọi yêu cầu do cuộc sống của đất nước đặt ra. Vậy thì “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Một tỉnh có đảng bộ độ 50, 70 người, thành phố có 100 đến 200 người mà có tâm, có tầm, khoẻ bằng vạn đảng bộ có 4, 5 hàng con số… Có tâm, có tầm người ta sẽ làm, không gây hậu quả xấu, chỉ có kết quả tốt đẹp.

Việc chuyển đổi sẽ không gây biến động, không làm sáo trộn đất nước, êm ả mà chuyển đổi, chậm chạp và chắc chắn, bó buộc là không ai được để nước ngoài can thiệp, việc làm có tạo ra đồng thuận.

Không đặt ra việc tìm lý luận, đường lối, chủ thuyết. Đây chỉ là bước đi để hình thành tổ chức, cái việc này do tổ chức có chức năng làm. Lý thuyết về Đảng và Hội đã khá phổ biến trên thế giới rồi. Trước mắt phải có tổ chức, tổ chức… Thay đổi sao cho tương ứng với nhiệm vụ, với đặc điểm, đó là việc của từng đảng.

Hình thành tổ chức có thể hình dung: chính những người cộng sản thực hiện việc tách đảng, con người vẫn là cộng sản, không ai cướp quyền của Đảng. Lẽ dĩ nhiên có một số người ngoài Đảng xin gia nhập.

Phải coi việc tách đảng là một cuộc chỉnh đốn Đảng cộng sản hiện đang cầm quyền.

Đảng viên của Đảng đang cầm quyền sẽ chia ra: một số đi theo Đảng mới vừa thành lập, một số vẫn ở trong Đảng như hiện nay, một số sẽ ra khỏi Đảng vì rất nhiều lý do. Các Đảng mới sẽ tự hoạt động. Đảng đang cầm quyền nếu không tự tuyên bố giải thể mà vẫn tồn tại, vẫn hoạt động thì nên tổ chức việc kết nạp lại: những người nhiều tai tiếng, những người không thiết tha với Đảng họ sẽ không đăng ký xin kết nạp lại, thế là bớt đi một phiền nhiễu cả kẻ đi lẫn người ở lại. Các Đảng mới là cứ hoạt động theo một đạo luật mới, đều bình đẳng. Thế là thể chế đa đảng hình thành một cách êm ả.

Không quá coi trọng việc viết văn kiện, việc ra mắt. Cái chính là Quôc hội chấp nhận đại diện tham gia ứng cử Quốc hội lập hiến là mọi việc khai thông.

Giữ nguyên luật pháp hiện hành, luật mới ra đến đâu thì phủ định luật cũ đến đấy, chấp nhận có sự vênh giữa luật và thực tiễn, nhưng chỉ chấp nhận tồn tại thời gian tối thiểu.

Giữ nguyên bộ máy cũ và chấn chỉnh, sửa đổi dần dần, với một nguyên tắc: người cầm đầu phải là người giỏi nhất, người đứng ra chấn chỉnh ngành, chấn chỉnh từ trên xuống. Coi trọng vai trò người cầm đầu, giai đoạn đầu coi như họ tối hậu quyết định.

Giải quyết tham nhũng có ý kiến cần tiếp tục, có phản bác là giai đoạn vừa chuyển đổi, công việc bề bộn, nhân sự chưa ổn định không thể làm việc chống tham nhũng. Có ý khác là vẫn phải làm bằng mọi giá. Lại thêm có ý kiến chống tham nhũng sẽ rối loạn, sẽ không thiếu những đòi hỏi bức xúc, không riêng gì đối với chống tham nhũng và còn nhiều vấn đề của nhiều lĩnh vực khác. Có thể nên dành cho các Đảng được thành lập mở hội nghị bàn tròn để giải quyết.

V. Lộ trình tách đảng và ban vận động thành lập đảng

a. Thái độ của Bộ chính trị quyết định việc chuyển đổi:

Nếu bộ chính trị chưa cho rằng việc chuyển đổi là cần thiết và coi cuộc vận động là một hành vi phiến loạn rồi ra tay cấm đoán và đàn áp thì mọi việc cứ như hiện tình mà tiến bước, dành cho thời gian phân xử. Đó có thể là một sai lầm dẫn đến mất nước, khác gì là Lê Chiêu Thống? Nếu Bộ chính trị nhận thức được tình hình thế giới hiện nay các cường quốc đã quy về một mối. Trung Quốc gặp khó, không thể muốn làm gì Việt Nam thì làm. Nhân cơ hội này Việt Nam chuyển đổi thể chế thì Trung Quốc đành bó tay. Thế là ta thoát nạn và một thế lâu dài được mở ra. Trường hợp này chỉ cần Bộ chính trị mặc nhiên để cuộc chuyển đổi êm ả diễn ra và cao hơn nữa là mở hội nghị bàn tròn giữa Đảng và các tổ chức vừa hình thành bàn bạc. Việc chuyển đổi do quyết định đa phương phác ra. Khi chuyển đổi thể chế ở Ba Lan, Ba Lan đã phải họp 25 cuộc họp liên tịch, có nhiều cuộc kéo dài, thời gian đến nửa năm.

Ở Việt Nam đây là đóng cửa bàn chuyện nhà. Sau khi bàn soạn kéo dài, đưa ra tuyên bố giữ đảng và chính phủ với các đại biểu nhân dân về cuộc thay đổi thể chế.

Công việc trong nước không hề thay đổi. Từ trên mọi việc thay đổi dần dần. Có tuyên bố tin này đến nhân dân. Một số người sẽ không vui nhưng vẫn phải bằng lòng. Cuộc thay đổi trong tinh thần cả nước một lòng, gác lại quá khứ, toàn dân giữ nước, toàn dân một lòng xây dựng tương lai.

b. Tình hình hiện nay:

Trong tình hình chính trị đất nước hiện nay, cảm thấy là khó có người nào đó đứng ra hiệu triệu thành lập một Đảng chính trị, càng khó hơn ai dám bí mật tập hợp một số người để lập Đảng… Dù rằng bản thân người ấy đã là những đảng viên, những quan chức cỡ lớn, có tự tin là mình được nhiều người ái mộ, là mình làm một cuộc dấn thân vì nhân dân. Đây là hạn chế rất lớn. Làm sao để vượt qua? Có thể chấp nhận một bước đi quá độ, một bước thăm dò, một giải pháp để vượt rào có thể thu xếp như sau:

Một số người tự đứng ra vận động thành lập một đảng “Đồng thuận”, có tính Đa nguyên, tự xác định nhiệm vụ, lề lối như sau:

Thành phần là những đảng viên, cán bộ đã làm việc lâu năm trong tổ chức Đảng và tổ chức Nhà nước. Tức là có sự am hiểu nhất định về việc và người. Số người này xác định các đối tượng có thể là nòng cốt cho Đảng cần tổ chức để bàn soạn việc chung và riêng.

Ban vận động cần mời được đủ từ 30 đến 50 đối tượng thì coi như hoàn thành nhiệm vụ. Khi mời được người thứ 5, thứ 7 thì những người được mời dĩ nhiên trở thành thành viên Ban vận động.

Khi con số lên đến 30, 50 thì Ban vận động tự giải thể. Ban phụ trách lâm thời của Đảng được ra đời. Từ ấy, mọi việc là của Ban phụ trách lâm thời.

Ban vận động xét cho cùng là một tổ chức “lobby chính trị”, một ban liên lạc, một ban thăm dò. Các thành phần trong Ban vận động sau khi hoàn thành nhiệm vụ, lấy thời điểm các ban phụ trách lâm thời các Đảng làm nhiệm vụ thì tự giải thể. Các thành viên Ban vận động dù có khả năng cũng không được tham gia các ban bệ của Đảng mới.

Việc Bộ chính trị không ngăn chặn, không cấm đoán, không khủng bố những người trong Ban vận động thì mặc nhiên có sự ra đời các Đảng mới, thực chất là các Đảng viên hiện nay tách ra coi như Bộ chính trị bật đèn xanh cho việc chuyển đổi thể chế.

c. Cái mô thức dân chủ hoá có thể bị dập tắt trong quá trình thực hiện vì không có sự đồng thuận của đa số trong Bộ chính trị:

Ngược lại mô thức này thành công ở thời điểm luật Bầu cử Quốc hội được ban bố và các Đảng cử đại biểu tham dự mà không bị cản trở. Cái chốt đã được vứt bỏ, chúng ta không cần bàn nhiều, có biết bao nhiêu tài năng được cởi trói, mọi việc có thể tiến hành rất nhanh ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Cái não trạng tự mình hù doạ mình sẽ được gột rửa.

VI. Vài dòng kết thúc

Trung Quốc hình như đã đi quá đà: thế kỷ 19 là của Anh, thế kỷ 20 là của Mỹ, thế kỷ 21 là của Trung Quốc, nhiều người nói thế và các dấu hiệu đã có. “Trung Quốc là con hổ ngủ”, điều này khi tôi còn nhỏ đã được nghe. Có đến gần 100 năm rồi nhưng vội nói rằng có thể chiếm Việt Nam trong 31 ngày, có thể đánh chiếm Ấn Độ và diệt cả Mỹ… rồi đòi chia đôi biển Thái Bình Dương với Mỹ lấy Hawai làm mốc… Nói thật hay hù doạ. Tôi tin là đã sa đà vào thế đang lên thành ra ngoa ngôn. Các trí thức thế giới hãy nghiên cứu kỹ Trung Quốc để có sự thống nhất nhận định, chỉ đạo cho mọi suy nghĩ và hành động của nhân dân thế giới. Nhân dân Việt Nam có lẽ là người xếp hàng số 1 để có được tài liệu này. Người ta còn nghĩ rằng Trung Quốc đang đi vào con đường của Liên Xô.

Một tình thế mới đang hé lộ: các nước lớn đã thấy mối đe doạ của Trung Quốc, họ như đang cụm lại để ngăn chặn Trung Quốc, cả các nước Asean cũng đã đòi tham gia giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông… Khủng hoảng về tài chính cũng làm cho Trung Quốc bị tổn thương, chưa rõ mức độ, khác với trước đây là đa cực nay hình thành như có hai cực… Điều này là một cái may, là một vận hội chưa bao giờ có. Nếu thế giới ngăn chặn được Trung Quốc thì Trung Quốc không thể chèn ép quá mức Việt Nam. Lúc này là lúc Việt Nam nên có thái độ rõ ràng. Thế giới phải giữ Việt Nam. Trung Quốc phải chiếm được Việt Nam. Trung Quốc mạnh hay thế giới mạnh, thời điểm một mất một còn, dù chon lựa gì thì cũng phải theo Phương Tây, mất Đảng còn nước. Theo Phương Đông mất nước, Đảng còn nhưng là cái xác không hồn, thế là mất cả Đảng cả nước, rồi dẫn đến Hán hoá là mất cả dân tộc. Một sự lựa chon không cần phải bàn cãi. Lúc này là lúc dứt điểm. Còn đối với Trung Quốc vẫn giữ hoà hảo như xưa, không sợ quá mức, hãy xem Trung Quốc gần đây đã hạ giọng rồi… Ta cũng phải kiên trì 16 chữ vàng vì đã nói là “chữ” thì chữ bao giờ cũng đúng. Cái sai là giải thích sai, cái sai là lớn hơn, là thực hiện sai. Ta nên lấy 16 chữ vàng để buộc Trung Quốc phải thực thi. Ta phải giao quyền lực cho Quốc hội để làm chỗ dựa đối nhau với Trung Quốc và luôn nhớ rằng ta không biết tự vệ là thiếu sót của ta.

Lúc này hãy nghiêng hẳn về Phương Tây, lúc này chớp thời cơ để dân chủ hoá, Trung Quốc đang lúng túng, chưa thể “động binh” để diệt ta. Đánh lẻ, ăn chắc trong cái thế toàn cục đang chưa ổn định. Phải chăng là điều có thể?

Đất nước ta hôm nay như trong tình trạng nước sôi lửa bỏng: Trước Đại hội X, mong mỏi của nhân dân là mở rộng dân chủ cho dễ thở, có lực để phát triển và chống được tham nhũng. Trước Đại hội sắp tới, việc Trung Quốc thâm nhập vào Việt Nam quá rõ ràng. Mọi suy nghĩ chuyển thành làm sao giữ được độc lập. Tất cả tập trung hy vọng vào việc dân chủ hoá. Dân chủ hoá sẽ giải quyết được việc trước mắt là độc lập, nhưng cũng một lúc giải quyết tham nhũng và mở đường cho phát triển.

Thế là trở lại khẩu hiệu: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của năm 1945. Dân chủ hoá! Hai chữ ngắn gọn mà ngọt ngào, lại là tất cả trong lúc này.

Luật Sư Trần Lâm
Tháng 11/2009

Một Kế Hoạch Cướp Đất Công Phu


Kính mời quí độc giả theo dõi bức thư kêu oan của 11 hộ dân tại tỉnh Bình Dương và kế hoạch cưỡng chế của công an sau đây để thấy rõ:

• Khi có hơi hướng tiền bạc để chia phần sau khi đuổi dân bán đất cho các doanh nghiệp, hệ thống công an nhiều cấp đã liên kết và lên kế hoạch trấn lột tỉ mỉ tới mức nào! Nếu các kế hoạch bảo vệ bờ cõi, diệt trừ tham nhũng, bài trừ tệ đoan xã hội, ... cũng được quan tâm gần như vậy, thì chắc chắn đất nước ngày nay đã khác hẳn.

• Các gia đình liệt sĩ, "có công với cách mạng", cựu chiến binh, gia đình chính sách, ... bị chế độ nhận diện, không phải để được đối sử nhẹ tay; nhưng để càng bị bao vây và bịt miệng kỹ hơn nhằm ngăn chận các ảnh hưởng tâm lý xấu lan rộng ra quần chúng.

• Giới cầm quyền luôn đề cao "xây dựng Nhà Nước pháp quyền" trên báo, đài nhưng lại rất sẵn sàng ra lệnh cho nhau sử dụng mọi loại thủ đoạn phi pháp để trấn áp dân chúng, kể cả các thủ đoạn "tấn công chính trị và răn đe" — như đấu tố tại khu vực sinh sống hay cơ quan, vu cáo và lăng mạ trên báo chí của Đảng, thuê đầu gấu đến tận nhà hành hung, v.v.

• Các lãnh đạo công an biết rõ việc làm của họ đáng xấu hổ và sẽ tạo nhiều phản đối nếu đông đảo quần chúng biết được. Chính vì thế mà công an mọi cấp đều rất sợ bị dân quay phim chụp hình khi đang giở trò bạo hành.

• Nhưng trong số những cán bộ công an phải đi thi hành loại kế hoạch ác đức này để làm giàu túi riêng của các quan chức lớn, vẫn có những người còn lương tâm, còn thấy rõ đây chỉ là hành động cướp bóc của dân lành giữa ban ngày bằng bộ máy hung bạo của chế độ. Chính những cán bộ này đã gởi toàn bộ bản kế hoạch cho thế giới bên ngoài.

Ban Biên Tập trang nhà Việt Tân


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

Tình Dương, ngày 30 tháng 11 năm 2009

ĐƠN KÊU CỨU VÀ TỐ CÁO
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CHỈ ĐẠO UBND HUYỆN TÂN UYÊN,VÀ UBND THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT LIÊN TỤC TỔ CHỨC CƯỠNG CHẾ, HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐÀN ÁP ĐỂ LẤY ĐẤT CỦA DÂN TRÁI VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT, ĐẨY NGƯỜI DÂN VÀO HOÀN CẢNH MẤT HẾT TÀI SẢN ĐẤT ĐAI, THẤT NGHIỆP VÀ KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ NUÔI SỐNG GIA ĐÌNH.

Kính gởi: Ông NGUYỄN MINH TRIẾT
CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

Chúng tôi ký tên dưới đây là dân cư ngụ tại Phường Phú Mỹ, Thị xã Thủ Dầu Một và xã Tân Vĩnh Hiệp, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương, có đất bị thu hồi làm khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương, gởi đơn nầy kêu cứu khẩn cấp với Ông và tố cáo UBND tỉnh Bình Dương, Thị xã Thủ Dầu Một và Huyện Tân Uyên cố ý làm trái pháp luật,đẩy người dân vào hoàn cảnh mất hết tài sản đất đai, không còn gì để sống và giao đất cho các doanh nghiệp để dành cho thuê kiếm lợi và chuyển nhượng cho nhau hưởng lợi hằng trăm tỷ đồng.

Sự việc cụ thể như sau:

1- Đề án tổng thể khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 912/QĐ-TTg ngày 1-9-2005; sau đó, đến năm 2006, Bộ Xây dựng mới phê duyệt các dự án đầu tư.

2- Trước đó, UBND Tỉnh Bình Dương đã ký quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23-6-2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương quy định giá bồi thường khi thu hồi đất làm khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương. Theo quyết định nầy, tiền bồi thường 30.000$/ m2 đất không đủ để người bị thu hồi đất mua lại một cái nền nhà ngay tại thửa đất của mình bị thu hồi (giá bán lại 5.000.000$/m2).

Đây là một quyết định ban hành trái pháp luật, vì lúc bấy giờ Tỉnh chưa thành lập Hội đồng bồi thường, chưa có quyết định thu hồi đất và chưa được Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể khu liên hợp.Thanh tra Chính phủ cũng đã xác định đây là một quyết định ban hành trái pháp luật.

3- Căn cứ vào quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23-6-2003, UBND tỉnh Bình Dương chỉ đạo UBND Huyện, Thị và các Phường Xã ra văn bản cùng nhiều thủ đọan khác đe dọa ép dân nhận tiền, giao đất, nếu không, Chính quyền sẽ tổ chức cưỡng chế thu hồi đất (mặc dù lúc nầy Tỉnh, Huyện, Thị chưa ban hành các quyết định thu hồi đất). Đây là những hành vi hoàn toàn trái pháp luật, vì khi chưa có đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa được thu hồi đất và chưa có cơ sở pháp lý nào để ép dân nhận tiền giao đất.

4- Trong năm 2004, UBND tỉnh đã quyết định giao gần 4.000 hecta đất cho các nhà đầu tư trong khi đề án khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương chưa được Thủ tướng phê duyệt và chưa làm thủ tục bồi thường cho người đang sử dụng đất.Đây là quyết định hoàn toàn vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành.

5- Khi dân khiếu nại những việc làm trái pháp luật như trên của Chính quyền thì UBND Tỉnh, Huyện cho rằng Chính quyền làm hoàn toàn đúng pháp luật, quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23-6-2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương là văn bản mà người dân không có quyền khiếu nại.

Hầu hết đơn khiếu nại của chúng tôi, trong đó có những đơn do Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Bộ tài nguyên Môi trường… chuyển về đều không được UBND Tỉnh, Huyện, Thị giải quyết.Các cơ quan nầy chỉ giải thích bằng miệng, hoặc gởi công văn cho dân mà không ra quyết định giải quyết khiếu nại cho chúng tôi.

Việc làm nầy hoàn toàn trái với các quy định của luật khiếu nại tố cáo, đã được Chính quyền địa phương cố ý thực hiện để ngăn chặn chúng tôi tiếp tục khiếu kiện lên cấp trên.

6- Để ngăn chận sự phản đối của người dân, Chính quyền Tỉnh, Huyện, Thị Xã tổ chức sử dụng lực lượng công an, quân đội trấn áp, bắt bớ, đánh đập những người dám ngăn cản việc thi công trái phép trên đất mà người dân đang có quyền sử dụng hợp pháp. Ngày 24-10-2007, Bà Thái thị Hò, 70 tuổi, vợ liệt sỹ bị đánh ngất xỉu đến phải đi cứu cấp ở bệnh viện tỉnh Bình Dương. Cũng ngày nầy, Bà Bồ thị Chiệp, 74 tuổi cũng bị đánh bầm dập cánh tay, đến nay vết bầm vẫn còn. Ngày 18-5-2009, hai đứa bé 15 tuổi con Ông Thái văn Thiện và một bé gái 16 tuổi con của Bà Trần thị Huệ cũng bị lực lượng cưỡng chế đánh đập tàn nhẫn. Nhiều người đã bị tù oan vì bảo vệ những quyền lợi chính đáng của gia đình mình.Những người thi công trái pháp luật và bảo vệ cho việc làm trái pháp luật thì được gọi là “thi hành công vụ”; người bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của gia đình mình trở thành người vi phạm pháp luật.Các Ông Nguyễn văn Lãnh ở phường Phú Mỹ bị bắt tháng 2 năm 2006, Nguyễn Ngọc Thạch ở xã Tân Vĩnh Hiệp bị bắt tháng 7 năm 2007 và Thái văn Tấn bị bắt tháng 6-2009 … đều là nạn nhân của nạn cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật.

7.-Từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành các quyết định thu hồi toàn bộ 4.196 hecta đất để làm khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương.Căn cứ vào các quyết định nầy, UBND Huyện Tân Uyên và UBND thị xã Thủ Dầu Một đã ban hành các quyết định cụ thể thu hồi đất của dân.

Đây là các quyết định được ban hành trái pháp luật, vì lúc nầy, Thủ tướng Chính phủ chưa ký quyết định phê duyệt đề án tổng thể khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương.

8.-Trong hơn 6.000 hộ dân có đất bị thu hồi làm khu liên hợp, hầu hết phải nhận tiền giao đất từ các thông báo của Chính quyền cấp xã ( nói là để thực hiện quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23-6-2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương). Họ hoàn toàn không nhận được quyết định nào của Chính quyền về thu hồi đất và bồi thường đất. Số còn lại, cũng không được Chính quyền giao quyết định thu hồi đất, có lẽ để người dân không có cơ sở khiếu nại.Chính quyền cũng không hề ra quyết định bồi thường cho từng hộ dân bị thu hồi đất, mà chỉ căn cứ vào quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23-6-2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương để lập các biên bản bồi thường gởi kèm theo thông báo của Xã,Phường ép dân nhận tiền, giao đất.Mãi đến cuối năm 2008, UBND Huyện Tân Uyên và UBND thị xã Thủ Dầu Một mới ban hành quyết định bồi thường cho các hộ dân còn lại chưa nhận tiền bồi thường.

Ngay sau khi có quyết định bồi thường, chúng tôi đã có đơn cá nhân gởi UBND Tỉnh, Huyện khiếu nại các quyết định nầy. Đến nay đã 7,8 tháng; các cơ quan nầy vẫn không giải quyết trả lời gì cho chúng tôi cả.

Đây cũng việc làm hoàn toàn trái pháp luật được chính quyền Tỉnh Huyện cố ý thực hiện nhằm lấy đất của dân mà người dân không có cơ sở để khiếu kiện lên cấp trên.

• 9-UBND tỉnh Bình Dương và các Huyện, Thị đã thực hiện một quy trình bồi thường thu hồi đất hoàn toàn trái pháp luật:

• quyết định giá bồi thường, ra thông báo và lập các đoàn “vận động” ép dân nhận tiền bồi thường; ra văn bản, kể cả quyết định, cưỡng chế thu hồi đất trước khi ký quyết định thu hồi đất.

• giao đất cho các nhà đầu tư tiến hành thi công, ngay cả trên những thửa đất chưa thu hồi và chưa bồi thường cho dân.

• ban hành các quyết định thu hồi đất trước khi đề án tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

• ban hành các quyết định cưỡng chế thu hồi đất.

• ban hành các quyết định bồi thường đất cho từng hộ dân bị thu hồi đất.

Đây là hằng loạt những vi phạm pháp luật mà Thanh tra Chính phủ và báo chí đã phát hiện, công bố.

10-Từ cách làm sai trái như trên của Chính quyền, nhiều hộ dân không chịu nhận tiền giao đất.Pháp luật quy định là bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, nhưng nếu nhận tiền giao đất, coi như toàn bộ tài sản đất đai được Ông cha tích lũy từ nhiều đời nay bị mất trắng; không công ăn việc làm, không biết phải làm gì để sống, gia đình chúng tôi chắc chắn phải rơi vào cảnh đói nghèo.

UBND Tỉnh, Huyện, Thị xã chụp mũ những người chưa chịu nhận tiền là thành phần chống đối, gây nhiều khó khăn cho chúng tôi trong đời sống hằng ngày.

Tàn bạo hơn cả là UBND Tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo UBND Huyện, thị xã tổ chức cưỡng chế thu hồi đất. Bà Trần thị Kim Vân, phó Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp chỉ huy dùng lực lượng vũ trang, xe cơ giới, đập tan nát nhà cửa, càn phá hoa màu đang thu hoạch, dẫm nát cây cối vườn tược, chôn sống gà vịt, bắt heo, xúc hết lúa gạo, lấy đi toàn bộ quần áo và đồ dùng gia đình… để người dân phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, không cơm ăn áo mặc. Điển hình hơn cả là trường hợp Ông Thái văn Thiện ở ấp Vĩnh Trường bị cưỡng chế ngày 18-5-2009, Ông Võ văn Tấn ở Phú Mỹ bị cưỡng chế ngày 11-9-2009 và Phan văn Tác ở ấp Tân An, xã Tân Vĩnh Hiệp bị cưỡng chế ngày 12-11-2009 bị đập phá nhà cửa đang phải ở giữa trời mưa nắng.

Điều đáng lưu ý là các quyết đinh thu hồi đất được chính quyền ban hành trái pháp luật, không phát hành đến tận tay người dân mà chỉ niêm yết ở trụ sở UBND Xã lại được tổ chức cưỡng chế để thực hiện.Đây là cách làm hoàn toàn không đúng quy định pháp luật.

11-Khó hiểu hơn cả là nhân dân càng khiếu kiện, các cơ quan Trung ương có thẩm quyền càng im lặng; Đảng, Chính phủ, Quốc hội cũng không trả lời.Trái lại, chính quyền địa phương càng đàn áp khốc liệt hơn để lấy đất của chúng tôi.Đến khi chúng tôi gởi đơn nầy, UBND Tỉnh, Huyện vẫn tiếp tục tổ chức cưỡng chế để thực hiện các quyết định thu hồi đất mà chính quyền đã ban hành trái pháp luật ngay từ khi đề án khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương chưa được Chính phủ phê duyệt.Đây là biểu hiện bất chấp quy định pháp luật, chà đạp lên các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, xâm phạm trắng trợn quyền sống của người dân.Hàng ngàn hộ dân đã bị lấy đất, hàng trăm hộ đã bị cưỡng chế, nay nhiều hộ khác cũng đang nhận được quyết định cưỡng chế của Chính quyền.Nhiều người đã phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất.

12-Trên thực tế đề án khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương là một dự án kinh doanh hạ tầng và kinh doanh đất đai, do công ty Bécamex làm chủ đầu tư.Ngay từ đầu, mọi việc do công ty nầy đứng ra đảm nhiệm.Và hiện nay, toàn bộ hệ thống các tổ chức của Chính quyền địa phương đã và đang đàn áp khốc liệt để cho công ty nầy tiếp tục vơ vét toàn bộ đất đai của những hộ còn lại chưa chịu nhận tiền giao đất cho họ bán lấy lãi.

Tại sao Công ty Bécamex là chủ đầu tư dự án, được quyền tự chủ về tài chánh trong việc kinh doanh hạ tầng và kinh doanh quỹ đất, mà chính quyền phải tích cực cưỡng chế để thu hồi đất để giao cho công ty nầy khai thác?

Phải chăng,số tiền chênh lệch giữa giá đền bù và giá bán ra mỗi hecta đất hàng chục tỷ đến hàng trăm tỷ đồng, một phần đã được chia cho cán bộ chính quyền địa phương dưới nhiều hình thức khác nhau? Và đây là một vụ tham ô tập thể? và đây là cách để cán bộ tham nhũng, làm giàu bằng xương máu của nhân dân?

13-Sáu năm trời, mặc cho dân gào thét khiếu nại, mặc cho dân không còn đất chẳng biết phải làm gì để kiếm sống, mặc cho báo chí đưa tin về những sai phạm động trời tại khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị tỉnh Bình Dương,.. chính quyền tỉnh, huyện thị cứ đập phá, cứ lấy đất, cứ giao cho các nhà đầu tư để dành cho thuê hưởng lợi, cứ ký quyết định cho các nhà đầu tư chuyển nhượng dự án kiếm lời mỗi vụ vài trăm tỷ bạc…

Đó là chính sách đền ơn đáp nghĩa cho người có công cách mạng của tỉnh Bình dương.
Đó là chính sách chăm lo đời sống cho nhân dân của tỉnh Bình Dương .
Đó là cách sống và làm theo pháp luật của tỉnh Bình Dương.
Đó là cách xóa đói giảm nghèo, là biểu hiện chống tham nhũng của tỉnh Bình Dương.
Đó là cách thể hiện tinh thần chính quyền là của dân, do dân và vì dân của tỉnh Bình Dương.
Đó là cách đối xử theo chính sách tôn trọng nhân quyền của tỉnh Bình Dương .

14.Chúng tôi không hiểu tại sao qua báo đài, từ tháng 3-2008, Thanh tra nhà nước đã khẳng định việc thu hồi, bồi thường và giải phóng mặt bằng để làm khu liên hợp Bình Dương của UBND tỉnh, huyện, thị là sai pháp luật và báo đài đã đưa tin Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã thông báo kiểm điểm Ban thường vụ tỉnh ủy Bình dương về những sai phạm nầy từ tháng 9-2009; Vậy mà đên nay, cuối tháng 11-2009 chính quyền tỉnh, huyện, thị vẫn cứ tiếp tục tổ chức cưỡng chế thực hiện các quyết định thu hồi đất đã ban hành trái pháp luật?

Chúng tôi kính mong Ông khẩn trương ngăn chận những hành vi tội ác của tỉnh Bình Dương, buộc các quy định luật pháp phải được thực thi nghiêm chỉnh và trả lại sự công bằng cho người dân.Đừng để cho ở một nước thành viên Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, đã từng ký kết nhiều công ước quốc tế, trong đó có cả Hiến chương Quốc tế về nhân quyền, mà quyền sống cơ bản của người dân bị chà đạo công khai, trắng trợn và tàn bạo như chúng tôi đang bị đối xử ở đây.

Rất mong được Ông hết sức quan tâm cứu giúp.

Trân trọng kính chào Ông.

ĐÍNH KÈM:
Chữ ký của 51 hộ dân cùng đứng đơn.
- bản sao kế hoạch số 03/KH-PH (CA-QS) ngày 6-11-2009 của Công an và BCH quân sự huyện Tân uyên.
- ảnh chụp một chốt CA-QS đang làm nhiệm vụ trong ngày cưỡng chế 12-11-2009.

JPEG - 99.3 kb
Để đàn áp những người dân không có tấc sắt trong tay, chính quyền Tỉnh, Huyện huy động lực lượng Công an, quân đội với đầy đủ phương tiện, vũ khí, dựng lều khắp nơi, cắm bảng “Khu vực cưỡng chế, cấm người vào, cấm quay phim, chụp hình”, rồi ngang nhiên cào ủi, đập phá, bắt bớ, đánh đập … coi như trên đất nước nầy không còn pháp luật gì cả.

Việt Tân

2009/12/02

Khi chủ tịch nước kể chuyện tiếu lâm XHCN


Trong một xã hội phát triển ngày nay, việc phát biểu trước công chúng của các quan chức, đặc biệt là những người đứng đầu nhà nước là điều được công chúng xem trọng, và được đánh giá kỹ qua từng lời ăn tiếng nói. Chính vì vậy, các chức sắc cao cấp đều phải cẩn thận và chuẩn bị kỹ cho những bài phát biểu của mình, bằng không thì dễ làm trò cười cho thiên hạ nếu có những lời phát biểu ngô nghê. Trường hợp của ông chủ tịch nước CHXHCNVN Nguyễn Minh Triết có lẽ là một trường hợp hiếm có, vì ông chủ tịch này đã năm lần bảy lượt có những lời phát biểu ngô nghê, tạo ra những trận cười nghiêng ngữa cho người nghe.

Trò cười gần đây nhất là khi ông đến tham dự và phát biểu trước đám đông tại “Hội nghị người VN ở nước ngoài” ở Hà Nội hôm 22/11/2009. Trong bài phát biểu dài dòng trước đám đông đại biểu cán bộ trong nước và Việt kiều, ông đã nhiều phen chọc cười người nghe. Bài phát biểu của Triết có 2 nội dung chính: phần đầu là chia sẻ với các Việt kiều về nạn tham nhũng bất kham trong nước; trong phần còn lại thì Triết thao thao kể chuyện ...”tếu” ngoại giao. Hai đoạn video clips quay cảnh Triết phát biểu này đã được đưa lên YouTube, và đang trở thành “Hot” clips với số người xem tăng vùn vụt.

Lời phát biểu của Triết trong đoạn video YouTube thứ nhất

Bên dưới đây là nguyên gốc bản ghi chép lời của Triết trong đoạn video thứ nhất trên YouTube:

    “Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có kinh nghiệm trong quản lý. Là ở nước người ta đó, thì muốn tiêu cực muốn tham nhũng cũng khó vì cái hệ thống luật phát nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham,... Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, (bà con bắt đầu cười, làm Triết cao hứng lên). Mượn thì hổng thấy ai đòi hết (và một tràng vỗ tay cười ồ,... nên càng kích thích riết lên tông) thấy hông,... thì em mượn thêm. Chứ hổng phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu,... Nói một hồi thì thấy người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới, hông phải dzậy. Cho nên tôi đề nghị quý vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng nghĩ rằng sao trong nước mình tiêu cực quá. Mà hồi xưa mấy ổng quánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ mấy ổng tiêu cực thế (rồi cười khề khà,...). Đây là quy luật muôn đời (một tràng vỗ tay cười to). Con người ta trong mỗi người ai cũng có hỉ nộ ái ố hết trơn…. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm á,...”.

Trong phần này Triết muốn chia sẻ với các Việt kiều “yêu nước” về vấn nạn tham nhũng tại Việt Nam. Triết cho rằng các quan chức nhà nước CSVN “không muốn tham cũng động lòng tham” bởi vì “chưa có kinh nghiệm trong quản lý”, trong khi ở các nước khác thì khó xảy ra bởi vì “hệ thống luật phát nó chặt chẽ”. Còn nói rằng “chưa có kinh nghiệm trong quản lý” vì vừa ra khỏi chiến tranh, thì xin hỏi ông chủ tịch, thế thì 34 năm rồi mà vẫn còn chưa đủ sao? Hay là đợi đến 50 năm rồi mới tính sổ luôn?

Để các đại biểu Việt kiều hiểu rõ hơn cái lòng tham này, Triết đã đơn cử ví dụ về hình ảnh người kế toán trong các cơ quan nhà nước bằng cách ví von: “Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn thì hổng thấy ai đòi hết (thấy hông),... thì em mượn thêm”. Không biết có phải là ông chủ tịch suy bụng mình ra bụng người ta nên mới nói vậy chăng? Quả là một cách ví von vui tai thật, hết ý kiến luôn!

Triết lại khiến cử tọa cười ran khi phán rằng nạn tham nhũng là “quy luật muôn đời”. Chưa hết, ông chủ tịch này lại chọc cười cử tọa tiếp khi bi bô câu chuyện “con Rồng cháu Tiên” của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, nhưng lại nói trại ra là “con Lạc cháu Hồng”, và còn hùng hồn nói rằng “Trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm á,...” (là cái bọc trứng đấy!). Mà làm gì có chuyện “ít có nơi nào”, bởi vì chẳng hề có nơi nào có câu chuyện huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ ngoài Việt Nam ra. Hay là ông chủ tịch quên bài học vỡ lòng này rồi?

Đoạn video YouTube thứ nhì

Đây là đoạn ghi lại âm thanh hình ảnh ông chủ tịch nước kể chuyện phiếm ngoại giao trước cử tọa Việt kiều. Triết lần lượt kể các mẫu chuyện ngoại giao khi viếng thăm các nước Tân Tây Lan, Na Uy, Áo, Hy Lạp, Mỹ,.. Bên dưới đây là nguyên gốc bản ghi chép (Transcript) lời của Triết trong đoạn video thứ nhì:

    “... Qua New Zealand thì bà thủ tướng lúc đó bả nói rằng cả cái nội các của bả là thế hệ Việt Nam. Người ta tự hào lắm, người ta nói giữa cái hội trường đông người như thế.

    Sang Na-Quy thì ông thủ tướng Na-Quy ổng nói lúc tôi còn bé 13, 14 tuổi tôi đã đi quyên góp vân động để gây quỹ ủng hộ cho Việt Nam. Tôi đi theo chị tôi, anh tôi là những người lớn hơn, đấu tranh mạnh mẽ hơn, còn tôi thì chỉ làm công việc quyên góp thôi.

    Tôi gặp ông tổng thống Áo thì ông tổng thống Áo nói dzới tôi một cách hùng hồn rằng ngày trước tôi gặp ông Mac Namara lúc ổng làm bộ trưởng quốc phòng, tôi nói rằng ông không thắng được Việt Nam đâu, nhưng mà Mắc-ra,... Ma-ra không nghe. Sau này khi Mắc-Na-Ma-Ra không còn làm bộ trưởng quốc phòng nữa thì gặp lại ổng và nói rằng lúc trước tôi không nghe ngài.

    Tôi sang Hy Lạp thì ông tổng thống Hy Lạp ổng nói như những người cộng sản. Mới tháng 9 vừa rồi tôi đi dự hội nghị các nhà lãnh đạo của 15 nước hội đồng bảo an LHQ. Mình đến cuộc họp này dzới một cái tư thế là mạnh mẽ (chiếu tấm hình Triết ngồi xuống tại LHQ), mà mình là người có tiếng nói mạnh mẽ, chưa bao giờ mình lại cất cao tiếng nói như thế. Và ngay Đại hội đồng LHQ vừa rồi, kỳ họp sáu mươi tư (64). Cũng ở diễn đàn đó mình lại lên tiếng, mình phê phán cái dziệt là cấm vận Cu-Ba. Và trong cái cuộc họp đó, ngoài những cái ý kiến chung thì tôi có thêm một cái ý kiến: tôi hoan nghênh ông Ô-Ba-Ma. Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Ga-Ta Na-Mô mà. Nhưng mà tôi nói rằng ông Ô-Ba-Ma ơi, vấn đề này là khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Ô-Ba-Ma tôi thấy ổng ahhh, cũng chăm chú lắm, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên Ô-Ba-Ma, nhưng mà mình vừa muốn phân hóa cái … cái nội bộ của ổng,.. ahhh,..

    Như vậy đó, tôi muốn nói dzới các đồng chí dzới quý vị rằng cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng dzới người ta, cũng nói năng cũng đúng mức đàng hoàng,...”

Nói đến bà cựu thủ tướng Tân Tây Lan Helen Clark, người rời khỏi chức vụ thủ tướng nước này hồi năm ngoái, sinh năm 1950, tức là lớn lên cùng thời với cuộc chiến Việt Nam. Bà cựu thủ tướng này cũng như hầu hết các thành viên nội các đều có tuổi tác ở thế hệ này nên bà mới nói mình thuộc “thế hệ Việt Nam”, nhưng ông chủ tịch lại vội vơ vào, cứ tưởng bở rằng hễ nói đến “thế hệ Việt Nam” cũng có nghĩa là ủng hộ cuộc chiến của Việt cộng. Cho nên nói là “người ta tự hào lắm” là tự hào cái gì vậy, thưa ông?

Đề cập đến 2 nước Bắc Âu là Na Uy và Áo, ông chủ tịch lại khoe mẽ với đám Việt kiều về câu chuyện phiếm ngoại giao liên quan chiến tranh VN khi trao đổi với nguyên thủ hai nước này. Nhưng không biết dụng ý của ông chủ tịch là gì khi kể lại rằng tổng thống Hy Lạp “nói như những người cộng sản”. Có thể là ông tổng thống Hy Lạp “nói như những người cộng sản” nhưng ông ấy có hành động như người cộng sản hay không lại là một chuyện khác, bởi vì ông tổng thống Hy Lạp cũng như nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới này đều thông hiểu lý thuyết cộng sản, nhưng chẳng có ai áp dụng lý thuyết cộng sản, ngoại trừ 4 nước cộng sản còn lại.

Câu chuyện phiếm ngoại giao cuối cùng và cũng là câu chuyện vui nhất đề cập đến chuyến đi đến Mỹ của Triết để tham dự phiên họp của Khóa họp thường niên lần thứ 64 Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tại đây Triết đã có một bài phát biểu liên quan đến sự hợp tác với quốc tế trong các lĩnh vực, vấn đề Bắc Hàn và Iran, việc cấm vận Cuba, vấn đề chất Da Cam,... nhưng tuyệt nhiên tên của Tổng thống Obama cũng không hề được nhắc đến trong đoạn video về bài diễn văn này. Vả lại, trong chuyến đi này đến LHQ, mặc dầu rất muốn có một cuộc gặp gỡ với Tổng thống Obama, nhưng Triết đã không có được cơ hội này. Vậy thì lấy đâu ra câu chuyện “tôi có thêm một cái ý kiến: tôi hoan nghênh ông Ô-Ba-Ma”, để rồi Triết thao thao kể lại:

    “Tôi nói mà tôi nhìn Ô-Ba-Ma tôi thấy ổng,… cũng chăm chú lắm, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên Ô-Ba-Ma, nhưng mà mình vừa muốn phân hóa cái … cái nội bộ của ổng,..”

Ấy chết, sao lại có chuyện “vừa động viên Ô-Ba-Ma”, và cũng muốn “phân hóa cái … cái nội bộ” của người ta là làm sao vậy? Sao ông chủ tịch chơi cái trò gì kỳ vậy? Nhỡ những lời này đến tai người ta thì ăn nói làm sao đây? Mà cái trò “phân ... hóa” này thối lắm ông ạ, xưa lắm rồi, nói ra chỉ làm cho người ta cười vào mũi thôi.

Nghe cách phát biểu của Triết thì người ta có thể suy ra 3 giả thuyết về còn người này:

* Thứ nhất: có lẽ là trình độ của ông chủ tịch chỉ độ ... lớp 3 trường làng

* Thứ hai: có thể là ông chủ tịch vui tánh, thích nói chơi để loè thiên hạ.

* Thứ ba: có thể là ông chủ tịch đã bị đứt dây thần kinh mắc cỡ rồi chăng?

Hoặc rất có thể là tất cả 3 giả thuyết trên đều đúng?

Thôi thì, dù đúng hay sai, các đại biểu Việt kiều hôm đó cũng đã được ông chủ tịch bỏ công kể chuyện tiếu lâm XHCN và những vị này đã có được những trận cười không ngớt.

Úc Châu, ngày 1/12/2009
Lê Minh

2009/12/01

Tôi biết gì về Trung Quốc?




Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!

Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”

– “Cái gì? 55 năm?”

– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.

Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ.. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.

Sự thật và trải nghiệm

Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Cộng mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Cộng hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.

Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.

Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953

Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.

Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.

Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.

Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.

Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.

Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt

Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.

Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Cộng thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Cộng. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Cộng. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.

Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Cộng tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.

Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa.. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì.

Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Cộng và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?

Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.

Du học ở Trung Cộng

Tuổ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.

Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Cộng theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.

Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.

Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Cộng ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Cộng phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.

Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậy tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.

Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.

Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.

Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”

Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Cộng, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.

Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Cộng rất tốt, giới trí thức Trung Cộng cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.

Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi..

Thời kỳ đã trưởng thành

Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.

Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.

Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Cộng giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.

Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Cộng thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.

Trung Quốc hôm nay?

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Cộng đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Cộng đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Cộng khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Cộng hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Cộng thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung Cộng: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Cộng hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Cộng đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.

Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Cộng rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Cộng không hề được hưởng lợi.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich

Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich

JPEG - 23.6 kb
Nước Trung Hoa hình quẻ chấn

Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.

Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân.. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Cộng sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).

JPEG - 24.5 kb
Cung điện Tây Tạng Potola

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội.. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh

Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình..

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ vơí Trung Cộng hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Cộng. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?

Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Cộng mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng,

Mô hình hàng không mẫu hạm ở vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?

KTS Trần Thanh Vân